145 Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mới nhất

TÊN ĐỀ TÀI: “Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ – Thực tiễn áp dụng”.

Định dạng: File PDF | Word 2016. Độ dài: 36 trang A4.

Phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải – Ảnh minh họa

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

Theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 79-KL/TW, Kết luận số 92-KL/TW của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đổi mới, cải cách thủ tục tố tụng dân sự theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức là một trong những biện pháp góp phần xây dựng nền tư pháp Việt Nam trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN. Chiến lược Cải cách tư pháp theo định hướng: “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”.

Một trong những đổi mới thủ tục tố tụng dân sự để hoạt động xét xử của Tòa án được tiến hành có hiệu quả và đưa vị thế của Tòa án trở thành trung tâm của hệ thống tư pháp, là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa abcxyz Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, trên tinh thần cải cách tư pháp để hoạt động tư pháp mà trọng tâm là xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình… Vấn đề này được pháp điển hóa trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, cụ thể là tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Đây là vấn đề với nhiều điểm mới quan trọng giúp cho việc thu thập, sử dụng, đánh giá chứng cứ của các thẩm phán cũng như những người tiến hành tố tụng khác giải quyết đúng đắn và triệt để những vụ việc dân sự trên thực tế.

Người viết lựa chọn và thực hiện đề tài Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ – Thực tiễn áp dụng” cho bài tiểu luận của mình với mục đích nghiên cứu, tìm hiểu để đóng góp ý kiến xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự.

2. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu:

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác xít, tư tưởng Hồ Chí Minh. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau sẽ được dùng để nghiên cứu đề tài tiểu luận như:

– Phương pháp phân tích: phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

– Phương pháp đánh giá để đánh giá những quy định pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng pháp luật. Từ đó có cái nhìn tổng quát, hiểu rõ được tình hình áp dụng chế định trong thực tế, rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân trong việc áp dụng vào giải quyết các vụ án theo thủ tục luật tố tụng dân sự.

3. Kết cấu của tiểu luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiện nghị, tài liệu tham khảo, tiểu luận được kết cấu gồm 2 chương, cụ thể:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Chương 2: Thực tiễn áp dụng về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.  

CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHIÊN HỌP KIỂM TRA VIỆC GIAO NỘP, TIẾP CẬN, CÔNG KHAI CHỨNG CỨ

I. Khái niệm, đặc điểm phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ

1. Khái niệm

1.1. Khái niệm Chứng cứ trong vụ, việc dân sự

Kế thừa và phát triển những quy định về chứng cứ trong vụ, việc dân sự đã được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS) năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011,  Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Chứng cứ trong vụ, việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”.

So với BLTTDS năm 2004, đã được sửa đổi bổ sung năm 2011 thì Điều này có một số sửa bổ, bổ sung mới. Cụ thể, thay đổi trật tự cụm từ “cá nhân, cơ quan, tổ chức” thành “cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Đồng thời, bổ sung cụm từ “xuất trình” và “trong quá trình tố tụng”.

Như vậy, chứng cứ có ba thuộc tính cơ bản: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Xét về thuộc tính khách quan của chứng cứ có thể thấy chứng cứ là những gì có thật, tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Chứng cứ tồn tại khách quan được thể hiện với những hình thức khác nhau, tuy vậy chứng cứ vẫn có thể là sản phẩm của ý chí con người, nhưng bắt đầu từ thời điểm ra đời, tính khách quan của chứng cứ đã xuất hiện và không phụ thuộc vào ý chí của con người. Con người không thể tạo ra chứng cứ theo ý chí chủ quan của mình. Tuy nhiên, trong thực tế khách quan tồn tại những tình tiết sự kiện nhưng chỉ những tình tiết sự kiện liên quan mật thiết với vụ việc dân sự mà Tòa án đang giải quyết mới được xem là chứng cứ. Tính liên quan của chứng cứ có thể là trực tiếp mà cũng có thể là gián tiếp. Ngoài ra, chứng cứ còn phải được thu thập, giao nộp, cung cấp, xuất trình theo đúng trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS) quy định. Đó là tính hợp pháp của chứng cứ.

1.2. Khái niệm về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ

Phiên họp trong tố tụng dân sự  là hình thức để các đương sự được biết và tiếp cận các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án; tạo điều kiện để các đương sự trao đổi, bổ sung chứng cứ, tài liệu; thỏa thuận giải quyết những vấn đề liên quan đến vụ án.

Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ là phương thức để các bên đương sự trao đổi chứng cứ, bổ sung tài liệu, chứng cứ (nếu có); trao đổi ý kiến và xác nhận những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết; trình bày ý kiến về những vấn đề cần thiết khác để Tòa án xem xét giải quyết.

Đây là quy định hoàn toàn mới, có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bảo đảm mọi chứng cứ được công khai, các đương sự đều biết các tài liệu, chứng cứ của vụ án để thực hiện quyền tranh tụng. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án đồng thời phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên Tòa các chứng cứ của vụ án phải được công khai trừ trường hợp không được công khai định tại khoản 2 Điều 109 của BLTTDS năm 2015. Các đương sự đều có quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai). Đương sự có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai). 

2. Ý nghĩa của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ

Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong giải quyết các vụ án dân sự. Tranh tụng trong xét xử được xem là một nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, đã được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành. Về mặt lý luận, nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự được hình thành trên cơ sở “Quyền được xét xử bình đẳng và công bằng của pháp luật”. Khi giải quyết một vụ việc dân sự chính là giải quyết mối quan hệ giữa các đương sự với nhau. Chính vì vậy lợi ích trong mối quan hệ này là lợi ích tư chứ không phải lợi ích công. Do đó để bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình, các bên đương sự được quyền chứng minh các lợi ích đó của mình là hợp pháp trước Tòa án. Tòa án đảm bảo thực hiện quyền tranh tụng của đương sự một cách bình đẳng, công khai, đúng pháp luật. Tranh tụng trong tố tụng được thể hiện ở nội dung: “Đảm bảo cho đương sự được biết và trình bày ý kiến về yêu cầu và chứng cứ của người khác đối với mình”; “Đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự; quyền bình đẳng của các đương sự được đảm bảo thực thi trên thực tế”.

Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và hòa giải có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bảo đảm mọi chứng cứ được công khai, các đương sự đều biết các tài liệu, chứng cứ của vụ án để thực hiện quyền tranh tụng của mình.

II. Trình tự, thủ tục, nội dung phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ 

1. Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ:

Theo quy định tại Điều 208 BLTTDS năm 2015:

“1. Thẩm phán tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự. Trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp.

  1. Trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.
  2. Đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên, trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự thì Thẩm phán, Thẩm tra viên được Chánh án Tòa án phân công phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp. Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án.

Đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên, trường hợp cần thiết có thể mời đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em chứng kiến, tham gia ý kiến. Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên và các thủ tục tố tụng khác đối với người chưa thành niên phải bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người chưa thành niên, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, giữ bí mật cá nhân của người chưa thành niên.”

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, sau khi lập hồ sơ vụ án, xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác, xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự, xác minh, thu thập chứng cứ, Thẩm phán phải tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự. Đối với những vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì chỉ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, mà không tiến hành hòa giải.

Trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp.

Đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên, trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự thì Thẩm phán, Thẩm tra viên được Chánh án Tòa án phân công phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp. Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án.

Đối với tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên, trường hợp cần thiết có thể mời đại diện cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em chứng kiến, tham gia ý kiến. Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên và các thủ tục tố tụng khác đối với người chưa thành niên phải bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người chưa thành niên, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, giữ bí mật cá nhân của người chưa thành niên.

Pháp luật Việt Nam đã thiết lập trong BLTTDS năm 2015 các quy định mới về phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trên cơ sở kết hợp với phiên hòa giải theo quy định trước đây. Đây là điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam so với pháp luật của một số nước như Nga, Pháp, Trung Quốc…Mặc dù tên Điều luật hướng tới việc thông báo cho các đương sự về phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng nội dung tại khoản 3 Điều này chủ yếu đề cập đến công việc mà Tòa án cần tiến hành để đảm bảo quyền lợi của người chưa thành niên trước khi có thông báo về phiên họp. Điều này thể hiện, pháp luật nước ta luôn xem trọng lợi ích của người chưa thành niên đặc biệt là khi họ tham gia tố tụng dân sự.

2. Thành phần của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Theo quy định tại Điều 209 BLTTDS năm 2015, thì:

“1. Thành phần tham gia phiên họp gồm có:

a) Thẩm phán chủ trì phiên họp;

b) Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp;

c) Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;

d) Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động. Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có);

e) Người phiên dịch (nếu có).

2. Trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên họp; đối với vụ án về hôn nhân và gia đình, Thẩm phán yêu cầu đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia phiên họp; nếu họ vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

3. Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp. Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự.”

Điều 209 BLTTDS năm 2015 đã kế thừa quy định về thành phần phiên hòa giải tại Điều 184 BLTTDS 2004. Tuy nhiên, Điều luật này đã bổ sung quy định về thành phần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động. Trường hợp cần thiết Thẩm phán yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia phiên họp đối với vụ án về hôn nhân và gia đình…Như vậy, thành phần tham gia phiên họp đã được mở rộng hơn trước đây.

Việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là hai hoạt động tố tụng độc lập được gộp chung lại thành một phiên họp. Trên thực tế khi tổ chức phiên họp, Thẩm phán phải tách thành 02 phần độc lập, có thể tổ chức trong cùng một buổi hoặc cùng một ngày. Có những đối tượng tham gia phiên họp là cần thiết cho hoạt động kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nhưng không cần thiết cho hoạt động hòa giải, họ có thể tham dự phần kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng không tham gia dự phần hòa giải hoặc ngược lại. Thẩm phán phải nhận thức đúng bản chất của việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để việc tổ chức phiên họp được thuận lợi, tránh trường hợp phải hoãn đi hoãn lại nhiều lần do có người vắng mặt.

Thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ gồm: Thẩm phán chủ trì phiên họp; Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp; các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự; đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có); người phiên dịch (nếu có); trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên họp; đối với vụ án về hôn nhân và gia đình, Thẩm phán yêu cầu đại diện cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia phiên họp; nếu họ vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

Như vậy, Thẩm phán chủ trì phiên họp; Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp; Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự; Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động. Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có); Người phiên dịch (nếu có). Trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên họp; đối với vụ án về hôn nhân và gia đình, Thẩm phán yêu cầu đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia phiên họp.

Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp kiêm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt. Quy định này cần được hiểu là việc tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ không ảnh hưởng đến đương sự vắng mặt thì mới tổ chức phiên họp. Nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp. Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự.

3. Trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Theo quy định tại Điều 210 BLTTDS năm 2015, thì:

“1. Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật này.

  1. Khi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hỏi đương sự về những vấn đề sau đây:

a) Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết;

b) Tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác;

c) Bổ sung tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa;

d) Những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết.

  1. Sau khi các đương sự đã trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu cầu của đương sự quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp người được Tòa án triệu tập vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho họ.
  2. Thủ tục tiến hành hòa giải được thực hiện như sau:

a) Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;

b) Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

c) Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu độc lập của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

đ) Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có) phát biểu ý kiến;

e) Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;

g) Thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất.”

Trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được chia làm 3 phần: Khai mạc phiên họp, phần kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phần hòa giải. Đối với những vụ án không tiến hành hòa giải, thì nội dung phiên họp chỉ gồm hai phần.

+ Khai mạc phiên họp:

Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký phiên họp báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia. Tiếp đến, Thẩm phán khai mạc và giới thiệu thành phần tham gia phiên họp. Thẩm phán cần giới thiệu ngắn gọn, nhưng đầy đủ, rõ ràng, tránh việc nói lắp, nói vấp. Sau đó, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của những người tham gia phiên họp theo quy định của BLTTDS.

+ Phần kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ:

Thẩm phán bắt đầu kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ bằng việc công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tiếp đến, Thẩm phán hỏi đương sự về những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, yêu cầu đương sự trình bày yêu cầu và phạm vi khởi kiện; hỏi đương sự về việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút đơn yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; hỏi đương sự về những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án án giải quyết.

Thứ hai, hỏi đương sự về tài liệu, chứng cứ đương sự đã giao nộp cho Tòa án và đã thực hiện việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác chưa.

Thứ ba, hỏi đương sự có bổ sung tài liệu, chứng cứ; có yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; có yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa hay không.

Thứ tư, hỏi đương sự có yêu cầu hay ý kiến gì khác với Tòa án hay trình bày những vấn đề khá mà đương sự thấy cần thiết.

Sau khi các đương sự đã trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu cầu của đương sự như chấp nhận hay không chấp nhận việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; nhận tài liệu, chứng cứ đương sự nộp bổ sung; giải quyết yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ… tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán chỉ đánh giá tính hợp pháp của tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà không đánh giá về tính liên quan, giá trị chứng minh của chứng cứ, không khẳng định hay phủ định nội dung chứng cứ là cơ sở chấp nhận hay bác yêu cầu đương sự.

Nội dung của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ phải được Thư ký Tòa án ghi vào biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Trường hợp người được Tòa án triệu tập vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho họ.

Điều luật đã kế thừa quy định về nội dung hòa giải tại Điều 185 BLTTDS năm 2004 và trình tự hòa giải tại điều 185a của BLTTDS năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 đồng thời bổ sung các quy định mới liên quan đến trình tự mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Mặc dù, Điều luật không quy định cụ thể: tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trước hay hòa giải trước nhưng xét về mặt logic thì việc hòa giải được tiến hành sau khi Thẩm phán đã tiến phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Do đó, cần có hướng dẫn cụ thể của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

4. Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Theo quy định tại Điều 211 BLTTDS:

“1. Thư ký Tòa án phải lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc hòa giải.

  1. Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm tiến hành phiên họp;

b) Địa điểm tiến hành phiên họp;

c) Thành phần tham gia phiên họp;

d) Ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự về các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 210 của Bộ luật này;

đ) Các nội dung khác;

e) Quyết định của Tòa án về việc chấp nhận, không chấp nhận các yêu cầu của đương sự.

2. Biên bản về việc hòa giải phải có các nội dung chính sau đây:

a) Các nội dung quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều này;

b) Ý kiến của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự;

c) Những nội dung đã được các đương sự thống nhất, không thống nhất.

3. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia phiên họp, chữ ký của Thư ký Tòa án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên họp. Những người tham gia phiên họp có quyền được xem biên bản ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản và ký xác nhận hoặc điểm chỉ.

4. Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải.”

Thư ký phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải có trách nhiệm lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc hòa giải.

Mặc dù, là một phiên họp, nhưng việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là hai hoạt động tố tụng khác nhau, nên BLTTDS quy định phải lập hai biên bản riêng.

Trong quá trình tiến hành phiên họp, Thẩm phán là người chủ trì, Thư ký Tòa án phải lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản phải thể hiện được các nội dung: Ngày, tháng, năm tiến hành phiên họp; Địa điểm tiến hành phiên họp; Thành phần tham gia phiên họp; Ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự; Quyết định của Tòa án về việc chấp nhận, không chấp nhận các yêu cầu của đương sự.

Nhìn chung, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ là phương thức để các bên trao đổi chứng cứ, bổ sung tài liệu, chứng cứ (nếu có); trao đổi ý kiến và xác nhận những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết; trình bày ý kiến về những vấn đề cần thiết khác…. Do vậy, việc quy định về phiên họp chuẩn bị xét xử là một trong những nội dung bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. 

CHƯƠNG II
THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ VIỆC PHIÊN HỌP, KIỂM TRA VIỆC GIAO NỘP, TIẾP CẬN, CÔNG KHAI CHỨNG CỨ

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 gồm 10 Phần, 42 chương, 517 điều. So với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên 63 điều; sửa đổi, bổ sung 350 điều; bổ sung mới 104 điều; bãi bỏ 07 điều; trong đó bỏ chương về tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự và bổ sung các chương: về thủ tục rút gọn; yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu; yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công; yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án; yêu cầu Tòa án bắt giữ tàu bay, tàu biển. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có những điểm mới so với các quy định về tố tụng dân sự trước đây, trong đó có nhiều quy định thể hiện việc tiếp thu kinh nghiệm của các nước và tinh thần hội nhập quốc tế của Việt Nam. Cụ thể, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung 4 Điều luật (Điều 208, 209, 210, 211) về “Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ” như đã phân tích Chương I.

Để bảo đảm mọi chứng cứ được công khai, các đương sự đều được biết các tài liệu chứng cứ của vụ án để thực hiện quyền tranh tụng, cho nên ngoài việc quy định nghĩa vụ của đương sự khi giao nộp tài liệu chứng cứ cho Tòa án thì phải gửi bản sao cho đương sự khác, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định phải có phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử. Tuy nhiên, để hạn chế việc phát sinh thêm thủ tục không cần thiết, nên đã ghép phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ với phiên hòa giải. Trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.

Thực tiễn áp dụng quy định tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 (ngày Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực), đã chứng minh tính khả thi cũng như hiệu quả thực tế mà quy định này mang lại trong quá trình xem xét, giải quyết các loại vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân gia đình, đặc biệt trong việc nâng cao tỉ lệ hòa giải thành, góp phần không nhỏ vào việc giải quyết mâu thuân, tranh chấp mà vẫn giữ được hòa khí trong nội bộ quần chúng nhân dân… Tuy nhiên, cũng có một số bất cập trong quá trình áp dụng quy định nêu trên trong quá trình áp dụng quy định nêu trên của pháp luật.

I. Ưu điểm

Một là, quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ giữa các bên đương sự trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, được coi là khâu đột phá của hoạt động tư pháp, đồng thời cụ thể hóa “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” được quy định tại khoản 5, Điều 103 của Hiến pháp năm 2013 cũng như pháp điểm hóa quan điểm chỉ đạo tại các Nghị quyết về cải cách tư pháp đến năm 2020 về “đẩy mạnh tranh tụng tại phiên tòa”, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử nói chung và phiên tòa tranh tụng theo pháp luật tố tụng dân sự nói riêng. Đây là, một trong những nội dung quan trọng của việc sửa đổi bổ sung của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bởi vì, bảo đảm quyền tranh luận tố tụng dân sự là nguyên tắc đặc biệt quan trọng, được thể hiện xuyên suốt trong quá trình tố tụng tại toà án, từ giai đoạn thụ lý vụ án dân sự đến giai đoạn thu thập chứng cứ và xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm. Và từ đó, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định chặt chẽ về quyền, nghĩa vụ, thủ tục cung cấp chứng cứ, chứng minh; trách nhiệm thu thập chứng cứ. Thời hạn giao nộp chứng cứ của đương sự do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng phải trước khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử ở cấp sơ thẩm, trừ trường hợp có trở ngại khách quan mà không thể giao nộp chứng cứ đúng thời hạn. Chứng cứ do đương sự giao nộp phải được đương sự chụp, sao và gửi cho đương sự khác. Việc quy định bổ sung phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để đảm bảo việc thụ lý vụ việc được công khai, minh bạch, đúng pháp luật, các bên được trình bày, được biết chứng cứ của nhau cũng như đảm bảo tính có căn cứ, sự tồn tại của quyền, lợi ích cần được bảo vệ. Phiên họp để công khai công bố các chứng cứ và xem xét các chứng cứ các bên đưa và cung cấp cho Tòa án, tại phiên họp đương sự phải có nghĩa vụ cam đoan đã cung cấp đầy đủ chứng cứ mà mình có đến thời điểm mở phiên họp để bảo vệ yêu cầu của mình. Đương sự có quyền cung cấp bổ sung chứng cứ trong quá trình xét xử.

Nguyên tắc này không chỉ nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà còn giúp Thẩm phán nghiên cứu kỹ nội dung vụ án cũng như các chứng cứ do các bên đương sự xuất trình trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời Thẩm phán phải có trách nhiệm tạo điều kiện để đương sự thực hiện quyền tranh luận của đương sự để ra bản án, quyết định đúng pháp luật. Mặt khác, góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của những người tham gia tố tụng trong việc giao nộp, chứng cứ nói riêng và việc giải quyết vụ án nói chung.

Hai là, quy định về tiếp cận, công khai chứng cứ giữa các bên đương sự trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là cần thiết nhằm bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch trong tố tụng dân sự, tạo điều kiện cho các bên đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011chưa có quy định cụ thể về việc kiểm tra, giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ của các đương sự trước khi vụ việc được Tòa án đưa xét xử. Vì thế, một số trường hợp đương sự chỉ biết được chứng cứ, tài liệu của các đương sự khác khi họ xuất trình tại phiên tòa, không có quy định về chế tài xử lý để hạn chế việc thiếu hợp tác của một bên đương sự. Thiếu sót này dẫn tới sự bị động và khó khăn cho một bên đương sự trong việc bảo vệ quyền của mình trước Tòa án. Mặt khác, theo tinh thần của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 thì việc giao nộp chứng cứ vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của các đương sự và các đương sự không bị giới hạn thời gian giao nộp chứng cứ mà có quyền giao nộp chứng cứ vào bất kỳ thời điểm, giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự có tình trạng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, đương sự không cung cấp chứng cứ, cố tình che giấu chứng cứ, chấp nhận có thể bị Tòa án bác yêu cầu, đến giai đoạn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm mới giao nộp, thì Tòa án vẫn phải chấp nhận chứng cứ đó, dẫn đến việc phải hủy, sửa bản án đã ban hành. Như vậy, chính quy định này dẫn đến việc đương sự lợi dụng kéo dài việc giải quyết vụ án, làm giảm tính ổn định của bản án, quyết định của Tòa án, gây tốn kém thời gian, công sức cho cả Tòa án và các bên trong vụ án. Do đó, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và hòa giải được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích củ​a đương sự trong các tranh chấp vụ, việc dân sự phát sinh trong thực tiễn và khắc phục những hạn chế, bất cập trong việc giao nộp và thời điểm giao nộp chứng cứ, công khai chứng cứ…

Ba là, quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,công khai chứng cứ và hòa giải được tiến hành trong cùng một phiên họp có ưu điểm là tránh việc lặp lại nội dung của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì Thẩm phán phổ biến quyền và nghĩa vụ cho các đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; yêu cầu các bên đương sự trả lời về yêu cầu và phạm vi khởi kiện; việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện; yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên hòa giải, Thẩm phán không cần lặp lại việc phổ biến quyền và nghĩa vụ cho các đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự mà chỉ phổ biến những quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình; đương sự cũng không cần trình bày lại yêu cầu và phạm vi khởi kiện; việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện; yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết mà đối với nguyên đơn chỉ trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện (nếu có); những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có); đối với bị đơn trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn; yêu cầu phản tố (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có).Theo đó, qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành và trên cơ sở đó Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Việc này tránh cho việc các đương sự phải đến Tòa án nhiều lần, tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng cho cả Tòa án và đương sự.

Bốn là, thực tiễn áp dụng quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào việc giải quyết các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân gia đình… đã góp phần tăng tỉ lệ các vụ án hòa giải thành, các vụ án đình chỉ do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện, hạn chế việc đưa các vụ án ra xét xử, tiết kiệm công sức, chi phí và thời gian cho cả Tòa án cũng như những người tham gia tố tụng. Thực tế tại đơn vị nơi người viết công tác, thông qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,công khai chứng cứ các đương sự có điều kiện để được biết chứng cứ của nhau cũng như đảm bảo tính có căn cứ, sự tồn tại của quyền, lợi ích cần được bảo vệ. Tại phiên họp này, sau khi các đương sự trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu cầu của đương sự, có thể kết hợp vận động và phân tích những hơn thiệt về vấn đề tranh chấp trên cơ sở quy định của pháp luật, qua đó các đương sự đã thấu hiểu và đi đến thoả thuận với nhau, chính vì lẽ đótỉ lệ các vụ án hòa giải thành, các vụ án đình chỉ do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện khá cao (256/315 vụ việc = 81,2%). Đạt được kết quả này một phần cũng do việc tổ chức tốt phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

II. Hạn chế, vướng mắc

Bên cạnh ưu điểm thì quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải tồn tại một số bất cập trong quá trình áp dụng, cụ thể như sau:

Thứ nhất, tại Điểm c khoản 2 Điều 210 quy định: “…c) Bổ sung tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; …”

Từ quy định trên cho thấy, trường hợp đương sự yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ và được chấp nhận thì vấn đề đặt ra là Tòa án có tiến hành mở thêm phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ để các đương sự tiếp cận tài liệu, chứng cứ mà Tòa án thu thập bổ sung được hay sẽ thực hiện việc công khai tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa. Trường hợp thực hiện việc công khai tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa nếu phát sinh việc phải thẩm định lại chứng cứ thì chi phí do đương sự hay Tòa án chịu.

Thứ hai, điểm d khoản 2 Điều 210 quy định cho đương sự có quyền đề xuất thẩm phán hỏi đương sự khác về “những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết”. Quy định này không rõ ràng, những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết là những vấn đề gì? Nếu mở rộng những vấn đề mà đương sự có quyền yêu cầu thẩm phán hỏi đối với đương sự khác thì dẫn đến thủ tục của phiên họp đã dài lại càng tốn nhiều thời gian hơn tại. Do vậy, thực tiễn khi tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ Thẩm phán thường phải chủ động giới hạn hoặc loại bỏ nội dung những vấn đề mà đương sự có quyền đề xuất Thẩm phán hỏi đương sự khác, nếu không có thể dẫn đến việc các đương sự đề xuất hỏi những vấn đề mà họthấy cần thiết nhưng không liên quan đến việc giải quyết vụ án hoặc không có tác dụng trong giải quyết vụ án, dẫn đến phiên họp bị kéo dài không cần thiết. Vậy, việc Thẩm phán chủ động giới hạn về nội dung những vấn đề mà đương sự có quyền đề xuất Thẩm phán hỏi đương sự khác có vi phạm pháp luật hay không?

Thứ ba, khoản 3 Điều 210 quy định: Sau khi các đương sự trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu cầu của đương sự, trong đó có quy định Thẩm phán xem xét, giải quyết việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác. Do vậy, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì Thẩm phán bắt buộc phải kiểm tra xem đương sự đã giao nộp các chứng cứ cho đương sự khác chưa (tại khoản 5 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự phải có nghĩa vụ sao gửi các tài liệu chứng cứ cho các đương sự khác). Thực tiễn khi Thẩm phán xem xét, giải quyết vấn đề này thường gặp trường hợp đương sự chưa gửi tài liệu chứng cứ cho nhau do không biết, một số trường hợp cố tình không gửi (phát sinh từ việc hai bên đương sự có tranh chấp dẫn đến mâu thuẫn, căng thẳng không muốn tiếp xúc hoặc muốn gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án), đương sự chỉ giao nộp khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Điều này có được xem là vi phạm thủ tục tố tụng không và việc xem xét tính hợp pháp của tài liệu chứng cứ đó chưa có quy định pháp lý cụ thể. Bên cạnh đó, Thẩm phán sau khi nghe các đương sự trình bày xong sẽ “xem xét các ý kiến, giải quyết yêu cầu của đương sự quy định tại khoản 2 Điều này”. Vậy, những yêu cầu nào của đương sự sẽ được xem xét, giải quyết? Yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 điều này có được giải quyết không? Quy định này cho thấy sự thiếu chặt chẽ và không rành mạch, rõ ràng. Do đó, quy định này có thể tạo kẽ hở để các đương sự đề nghị hoãn phiên họp với lý do để đương sự kia gửi tài liệu, chứng cứ cho mình.

Thứ tư, theo quy định tại các Điều 200 và Điều 201 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì bị đơn chỉ được quyền đưa ra yêu cầu yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, từ gốc độ lý luận và thực tiễn cho thấy, khi mở phiên họp hoặc sau khi kết thúc phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì các đương sự mới biết được toàn bộ tình tiết liên quan đến nội dung vụ án cũng như biết được quyền lợi và nghĩa vụ của mình có bị ảnh hưởng hay không để từ đó đưa ra yêu cầu độc lập hoặc yêu cầu phản tố. Trên thực tế, một vụ án có thể mở nhiều phiên họp vậy yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập của các đương sự thời điểm nào được chấp nhận và thời điểm nào không được chấp nhận. Trường hợp này, nếu Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập thì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nếu không thụ lý thì không giải quyết triệt để các nội dung liên quan trong cùng một vụ án. 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Nước ta đang đẩy mạnh công tác cải cách tư pháp nhằm xây dựng đất nước ta phát triển hoàn thiện lĩnh vực pháp luật cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, xây dựng thành công mô hình Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp (Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 79-KL/TW, Kết luận số 92-KL/TW của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI) thì đổi mới, cải cách thủ tục tố tụng dân sự theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức là một trong những biện pháp góp phần xây dựng nền tư pháp Việt Nam trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Một trong những đổi mới thủ tục tố tụng dân sự để hoạt động xét xử của Tòa án được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao, đưa vị thế của Tòa án trở thành trung tâm của hệ thống tư pháp, là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, đồng thời có nhiệm vụ kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước là đổi mới thủ tục tố tụng dân sự theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ,trên tinh thần cải cách tư pháp để hoạt động tư pháp mà trọng tâm là xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình…

Trong xu hướng đó có nhiều phương pháp, cách thức để thực hiện tốt mục tiêu này. Một trong những phương pháp cách thức đó nhà nước ta đã xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 với nhiều điểm mới về cả nội dung và hình thức. Để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của các quan hệ dân sự, quan hệ thương mại đó đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh nó. Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật nội dung thì việc hoàn thiện pháp luật tố tụng cũng là một nhu cầu rất cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong trường hợp có tranh chấp hoặc bị xâm phạm. Một cơ chế tố tụng có hiệu quả, vai trò rất quan trọng để các chủ thể yên tâm và, hơn nữa, thúc đẩy họ tham gia tích cực vào các giao lưu, thương mại trên thị trường góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, xã hội phát triển. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 với nội dung phong phú quy định khá cụ thể về những vấn đề liên quan đến hoạt động tư pháp của nước ta hiện nay, trong đó vấn đề phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong tố tụng dân sự là vấn đề với nhiều điểm mới quan trọng giúp cho việc thu thập, sử dụng, đánh giá chứng cứ của các thẩm phán cũng như những người tiến hành tố tụng khác giải quyết đúng đắn và triệt để những vụ việc dân sự trên thực tế, đáp ứng lòng tin của nhân dân đối với pháp luật.

Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là một nội dung mới và khá quan trọng của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Với vốn kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, trong phạm vi bài tiểu luận của mình em mới chỉ trình bày được phần nào nhận thức về vấn đề phiên họp. Rất mong nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy cô để em có được sự nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn về vấn đề này.

Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong tố tụng dân sự cho thấy bên cạnh những ưu điểm mà quy định này mang lại thì việc tổ chức thực hiện phiên họp vẫn còn tồn tại những hạn chế, vướng mắc như đã phân tích ở trên. Từ đó, người viết đề xuất một số kiến nghị với mong muốn đóp góp một phần nhỏ trong việc hoàn thiện pháp luật dân sự nói chung, quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong tố tụng dân sự nói riêng.

Một là, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định chung chung về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, thiếu cụ thể, không rõ ràng, không dự tính hết được những vấn đề có thể phát sinh trong thực tế, chưa có văn bản dưới luật hướng dẫn… nên mỗi Thẩm phán có cách hiểu, cách vận dụng pháp luật tố tụng dân sự khác nhau dẫn đến việc không thống nhất trong áp dụng quy định này. Do đó, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để Tòa án các cấp thực hiện thống nhất. Vì quy định luật pháp chỉ mang tính hình thức và không có biện pháp bảo đảm cụ thể thì sẽ không phát huy được vai trò tích cực trong điều chỉnh các quan hệ xã hội. Các biện pháp đưa ra phải hướng tới những chủ thể cụ thể của hoạt động chứng minh, những chủ thể có nghĩa vụ hỗ trợ với những biện pháp cụ thể và có tính thực tiễn cao, vừa dễ làm, dễ tiếp cận vừa có hiệu quả cao. Đặc biệt, cần sớm có hướng dẫn về thời điểm thụ lý yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập của đương sự như thế nào vừa không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vừa đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, rút ngắn thời gian kiện tụng của các đương sự.

Hai là, Tòa án nhân dân tối cao tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án các cấp về công tác giải quyết các loại án phức tạp trong đó đương nhiên không thiếu tập huấn về pháp luật tố tụng dân sự. Đồng thời, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngoài kiến thức pháp luật chuyên sâu cần tự học tập và năng cao kiến thức xã hội, tự trau dồi chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân, học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp đi trước.

Ba là, kinh tế xã hội phát triển dẫn đến các quan hệ xã hội cũng phát triển và phức tạp hơn nên các tranh chấp về pháp luật nói chung và tranh chấp dân sự nói riêng sẽ tăng thực tế các loại án ở Tòa án các cấp năm sau bao giờ cũng cao hơn năm trước, trong khi biên chế đội ngũ Thẩm phán, Thư ký, Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân hai cấp được Tòa án tối cao phân bổ ít và đang có xu hưởng tinh giảm 10% biên chế ở các cấp. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất và trang thiết bị còn thiếu đã tạo áp lực và gây khó khăn lớn cho Tòa án nhân dân hai cấp trong việc đảm bảo tiến độ xét xử các loại án đặc biệt là án dân sự. Như chúng ta đã biết, án dân sự là loại án phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, trong khi Tòa án nhân dân hai cấp hiện nay còn thiếu những Thẩm phán có trình độ chuyên sâu và kinh nghiệm thực tiễn về xét xử án dân sự nên quá trình thụ lý, giải quyết cũng gặp những khó khăn nhất định, phải thường xuyên trao đổi nghiệp vụ của Tòa án cấp trên. Do đó, công tác bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký và Hội thẩm nhân dân Tòa án các cấp là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay và tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm công tác xét xử theo định kỳ, mở rộng thành phần tham gia; tổ chức các buổi giao ban trực tuyến, trao đổi kinh nghiệm thực hiện công tác chuyên môn nhằm kịp thời phát hiện những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật nói chung, và pháp luật dân sự nói riêng, đặc biệt là những quy định pháp luật mới được Quốc Hội thông qua cũng như những quy định mới trong bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Song song với với đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, Tòa án nhân dân các cấp cần làm tốt công tác tổ chức cán bộ, công tác thanh tra và thi đua khen thưởng; tăng cường kỷ luật công vụ, kiểm tra và xử lý trách nhiệm kịp thời, nghiêm minh; đồng thời khen thưởng, biểu dương kịp thời đối với các đồng chí có thành tích suất xắc trong công tác; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đảm bảo cán bộ Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký rèn luyện giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán bộ làm công tác pháp luật, có lối sống trong sạch, lành mạnh, ý chí lao động và học tập ngày càng được nâng cao.

Bốn là, chú trọng và nâng cao công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nội bộ quần chúng nhân dân, đặc biệt là các quy định pháp luật liên quan đến nghĩa vụ chứng minh của đương sự, quyền thu thập chứng cứ, quyền tiếp cận chứng cận chứng cứ đã được luật hóa…nhằm thể hiện tính công khai dân chủ công bằng trong quá trình tố tụng; đồng thời trách nhiệm của đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ, tránh trường hợp đương sự trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ, cố tình gây khó khăn nhằm kéo dài thời gian giải quyết vụ án dẫn đến Tòa án gặp khó khăn vì thiếu quy định cụ thể để xử lý những hành vi đó. Qua công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức pháp luật và trách nhiệm của cá nhân, cơ quan tổ chức, qua đó đảm bảo hiệu quả thực chất trong tổ chức thực hiện phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, từ đó nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án dân sự, đặc biệt các vụ án hòa giải thành.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ luật Tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 ngày 15/06/2004;
  2. Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
  3. TS. Nguyễn Đức Mai – Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, NXB Chính trị Quốc gia;
  4. PGS. TS. Trần Anh Tuấn – Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, NXB Tư pháp;
  5. So sánh, đối chiếu Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và Bộ luật dân sự 2015, NXB Hồng Đức;
  6. Chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử – phần kỹ năng giải quyết vụ án Dân Sự (tập bài giảng cho khóa 4) của Học việc Tòa án, Tòa án nhân dân tối cao;
  7. Chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử – phần kỹ năng giải quyết vụ án kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình (tập bài giảng cho khóa 4) của Học việc Tòa án, Tòa án nhân dân tối cao;
  8. Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự.
  9. Nghị quyết 04/2005/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “Chứng minh và chứng cứ”.
  10. Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “Chứng minh và chứng cứ”.
  11. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 dưới góc nhìn so sánh với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) của Vụ Pháp chế và quản lý khoa học  pháp luật – Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

By 123luat.com