145 Tiểu luận: Hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng mới nhất

TÊN ĐỀ TÀI: “Hợp đồng ủy quyền – Thực tiễn trong việc ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân”

Định dạng: File PDF | Word 2016. Độ dài: 56 trang A4.

Trao đổi tài liệu Mua ngay

Hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án

Mục lục

LỜI MỞ ĐẦU

  1. Lý do chọn đề tài

Trong xã hội hiện đại ngày nay, hợp đồng ủy quyền đang dần trở thành là một trong những hợp đồng thông dụng trong giao lưu dân sự. Bởi lẽ, xã hội ngày càng phát triển thì các mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, do nhu cầu công việc, thời gian, kỹ năng chuyên môn mà các chủ thể không tự mình thực hiện các giao dịch dân sự nên phải “nhờ” người khác đại diện, nhân danh mình thực hiện. Thực tế cho thấy trong đời sống dân sự hiện nay đã xuất hiện hình thức dịch vụ đại diện theo ủy quyền. Những người thực hiện dịch vụ này không còn gói gọn trong nhóm các Luật sư được đào tạo nghiệp vụ một cách quy củ, mà đó có thể chỉ là một người có am hiểu về một lĩnh vực nhất định, hay thậm chí là một người bình thường chưa qua trường lớp mà chỉ dựa vào kỹ năng tự có của mình,…Điều này nói lên sự phát triển tất yếu trong tương lai gần, tính phổ biến và thông dụng của một giao dịch dân sự gọi là “ủy quyền”, để thực hiện giao dịch này, các chủ thể giao kết “hợp đồng ủy quyền”.

Ở một khía cạnh khác, nói về giao dịch ủy quyền phổ biến nhất hiện nay cần phải đề cập đến việc “ủy quyền tham gia tố tụng”. Bởi lẽ, công việc được ủy quyền trong tố tụng là một công việc mang nặng tính pháp lý. Trong khi xã hội ngày càng phát triển, các tranh chấp trở nên phức tạp, gay gắt. Chủ thể của tranh chấp luôn có nhu cầu được “thắng kiện” nhưng bản thân lại không có đủ kiến thức pháp lý, đủ tự tin để tự mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong vụ kiện. Hoặc do sự gò bó về thời gian, uy tín bản thân,…họ đã lựa chọn giải pháp là ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng tại Tòa án. Để thực hiện giao dịch này, giữa các bên giao kết hợp đồng ủy quyền với công việc, nội dung ủy quyền là tham gia tố tụng và quyết định các vấn đề liên quan trong vụ án. Từ đó, hợp đồng này ngày càng trở nên phổ biến, nhưng cũng đa dạng và phức tạp, ngày càng cho thấy được những rủi ro pháp lý quan trọng.

Pháp luật hiện hành quy định về hợp đồng ủy quyền nói chung và hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng nói riêng vẫn còn rất hạn chế. Do chưa kịp thời bắt nhịp với sự phát triển của loại hợp đồng này, pháp luật Việt Nam hiện hành cho thấy nhiều kẽ hở trong việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng.

Từ công tác thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, qua quá trình tìm hiểu xét xử, giải quyết các vụ án dân sự, bản thân người viết đúc kết được những rủi ro pháp lý nói chung của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng của đương sự, cũng như những vướng mắc trong việc điều chỉnh loại hợp đồng này của pháp luật Việt Nam hiện hành. Từ đó, người viết đã chọn đề tài “Hợp đồng ủy quyền – Thực tiễn trong việc ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng”  để nghiên cứu, thực hiện tiểu luận tốt nghiệp cử nhân luật.

  1. Mục tiêu nghiên cứu

Trên nền tảng quy định pháp luật về hợp đồng ủy quyền nói chung và hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng nói riêng, người viết nghiên cứu đề tài để chỉ ra được những vướng mắc thực tế khi áp dụng pháp luật để ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng cũng như thực hiện, quyết định các vấn đề có liên quan trong vụ án. Đồng thời người viết đề xuất những ý kiến góp phần giải quyết những bất cập ấy.

  1. Phạm vi nghiên cứu

Hợp đồng ủy quyền là một mảng đề tài rất rộng liên quan đến nhiều khía cạnh của cuộc sống thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Đối với hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng cũng liên quan đến nhiều vấn đề về hình thức, thẩm quyền. Do đó, người viết xin giới hạn đề tài nghiên cứu của mình, chỉ đề cập và phân tích về hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng, trong lĩnh vực dân sự, tại Tòa án.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Người viết vận dụng các phương pháp nghiên cứu trên tài liệu, sách vở, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, phương pháp tiếp cận thực tế và tổng hợp thông tin qua các bài viết, các công trình nghiên cứu có giá trị và tạp chí chuyên ngành trên nền tảng phương pháp luận theo quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

  1. Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, nội dung nghiên cứu của đề tài được trình bày gồm ba chương:

Chương 1: Lý luận chung về hợp đồng ủy quyền

Chương 2: Chế độ pháp lý về hợp đồng ủy quyền và việc ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án

Chương 3: Thực trạng trong việc ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng và giải pháp hoàn thiện

Hội đồng xét xử vụ án hành chính

CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN

Hợp đồng ủy quyền là một trong những hợp đồng dân sự thông dụng. Vì vậy, Chương 1 sẽ tìm hiểu khái quát về hợp đồng dân sự, từ khái niệm, đặc điểm đến phân loại hợp đồng dân sự để làm nền tảng cho những nghiên cứu về hợp đồng ủy quyền nói chung cũng như việc ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp nói riêng. Từ đó, người viết đi sâu tìm hiểu những vấn đề lý luận chung của hợp đồng ủy quyền như: khái niệm, đặc điểm, tầm quan trọng, lược sử hợp đồng ủy quyền trong luật dân sự Việt Nam.

1.1. Khái quát chung về hợp đồng dân sự

1.1.1. Khái niệm hợp đồng dân sự

Qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, các vấn đề về kinh tế, chính trị, văn hóa dần có nhiều thay đổi. Để tồn tại và phát triển, con người phải thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của mình. Nhưng tự bản thân mỗi người không thể tự đáp ứng những nhu cầu phong phú, đa dạng của mình. Do đó con người tất yếu phải tham gia vào rất nhiều quan hệ xã hội. Trong quan hệ trao đổi, việc mỗi chủ thể bày tỏ ý chí riêng của mình và rồi cuối cùng thống nhất ý chí với nhau để đạt được mục đích nhất định gọi là hợp đồng. Hợp đồng là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa người với người liên quan đến tài sản trong một xã hội có tổ chức.[1] Khi các bên phải chuyển giao tài sản, thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của nhau trong sinh hoạt, tiêu dùng hoặc trong sản xuất kinh doanh thì giữa họ hình thành hợp đồng dân sự.[2]

Theo từ điển Tiếng Việt, hợp đồng là sự cam kết giữa hai hay nhiều người để làm một việc gì đó, là việc xác lập trách nhiệm, quyền lợi. Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, hợp đồng dân sự được định nghĩa tại Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”.  Theo đó, chúng ta có thể hiểu, hợp đồng dân sự là giao dịch dân sự mà trong đó các bên trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.[3] Muốn có sự thỏa thuận, các chủ thể phải bày tỏ ý chí của mình dưới một hình thức nhất định, qua đó các bên có thể nhận biết được ý chí của nhau nhằm bàn bạc đi đến sự thống nhất ý chí. Sự thỏa thuận giữa các bên mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để hình thành hợp đồng dân sự. Để được pháp luật thừa nhận sự thỏa thuận giữa các bên là hợp đồng dân sự thì sự thỏa thuận đó phải làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý dân sự, tức là nghĩa vụ được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước. Các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng phải có tính chất tài sản.[4] Ngoài ra, hợp đồng phải được giao kết trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực, ngay thẳng và không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

1.1.2. Đặc điểm hợp đồng dân sự

Định nghĩa hợp đồng dân sự tại Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005 đã cho thấy những đặc điểm cơ bản của hợp đồng: hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên và sự ràng buộc pháp lý giữa các bên trong hợp đồng.

1.1.2.1. Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên

Hợp đồng là một giao dịch có nhiều bên tham gia để tạo lập sự ràng buộc pháp lý với nhau dựa trên sự cam kết, thỏa thuận. Bởi vậy, mặc dù trong luật thực định và trong lý luận có nhiều định nghĩa khác nhau về hợp đồng, nhưng chung quy lại, tất cả các định nghĩa đó đều thể hiện một quan điểm nhất quán là luôn xem sự thỏa thuận giữa các bên là một trong các yếu tố thể hiện bản chất của hợp đồng.

Yếu tố thỏa thuận vừa là nguồn gốc, vừa là cơ sở nền tảng tạo nên hợp đồng. Không có hợp đồng nào mà không do thỏa thuận và không có hợp đồng nào được tạo ra mà thiếu yếu tố thỏa thuận. Bởi vậy, có ý kiến cho rằng, “yếu tố thỏa thuận của các chủ thể là tiền đề của hợp đồng và được xem là tuyệt đối”.[5]

Theo nghĩa thông thường, thỏa thuận là “nhất trí, đồng ý với nhau sau khi bàn bạc”.[6] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thỏa thuận là sự nhất trí chung được thể hiện ở chỗ không có một ý kiến đối lập của bất cứ một bộ phận nào trong số các bên liên quan đối với những vấn đề quan trọng và thể hiện thông qua quá trình mà mọi quan điểm của các bên liên quan đều phải được xem xét và dung hòa. Sự thỏa thuận còn có ý nghĩa bao quát hơn, so với các khái niệm thương lượng, bàn bạc, đồng ý. Nếu khái niệm “thương lượng” hay “bàn bạc” dùng để chỉ quá trình thương thuyết, giao dịch giữa các bên và khái niệm “đồng ý” dùng để chỉ kết quả của quá trình đó, thì khái niệm “thỏa thuận” ở đây được hiểu là toàn bộ quá trình, từ sự thương lượng đến sự “thống nhất ý chí”. Đó là quá trình dung hòa giữa ý chí các bên, đi từ sự đồng ý của từng bên, đến sự hiệp ý hay gặp gỡ ý chí của hai hay nhiều bên khác nhau, nhằm đạt được sự nhất trí chung, hay sự đồng thuận giữa hai hay nhiều bên đó.

Sự thỏa thuận không chỉ là sự nhất trí, đồng ý chung chung mà còn phải có nội dung cụ thể, mục đích rõ ràng, tức phải xác định được bản chất của quan hệ hợp đồng mà các bên muốn xác lập. Tuy vậy, những thỏa thuận thiếu vắng các nội dung cụ thể là chuyện phổ biến trong thực tế, vì có thể do các bên sơ suất hoặc cố ý để ngỏ những điều khoản như vậy. Trong trường hợp có tranh chấp, những nội dung còn thiếu sẽ được Tòa án xem xét và áp dụng các điều khoản dự phòng của pháp luật, hoặc có thể bổ túc thông qua việc giải thích hợp đồng. Một thỏa thuận chỉ được coi là có giá trị pháp lý, nếu nội dung và mục đích của nó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Thỏa thuận chỉ có thể làm phát sinh hiệu lực ràng buộc đối với các bên nếu tuân thủ các yêu cầu do pháp luật quy định như điều kiện về chủ thể, điều kiện về nội dung và mục đích, điều kiện về sự tự nguyện, và điều kiện về hình thức hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định.

1.1.2.2. Hợp đồng tạo ra sự ràng buộc pháp lý giữa các bên

Một sự thỏa thuận không phải là hợp đồng, nếu không tạo nên hiệu lực ràng buộc giữa các bên. Bởi vậy, dấu hiệu thứ hai thể hiện đặc điểm của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên phải nhằm tạo ra một sự ràng buộc pháp lý. Một sự thỏa thuận mang tính chất xã giao hoặc một lời hứa danh dự, như lời hứa sẽ tặng quà nhân ngày sinh nhật, hoặc thỏa thuận sẽ đến dự tiệc ở nhà bạn, hay cùng  đi ăn tối với người khác cũng không phải là hợp đồng, vì các thỏa thuận này không tạo ra sự ràng buộc quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên. Sự vi phạm lời hứa danh dự hoặc các cam kết mang tính chất xã giao như trên có thể làm cho người thất hứa bị mất uy tín, bị dư luận chê trách, nhưng không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý và không thể bị áp dụng chế tài dân sự như trường hợp vi phạm hợp đồng. Trong xã hội ngày nay, người ta cũng sử dụng nhiều hình thức cam kết mang tính chất thỏa thuận nội bộ trong một khu vực dân cư, một đơn vị hành chính, một địa phương để cùng làm một việc hay cùng thực hiện một cuộc vận động gì đó của địa phương, đơn vị. Ví dụ như bản cam kết thực hiện cuộc vận động “nói không với tiêu 16 cực” giữa các nhà giáo với lãnh đạo ngành giáo dục, hay cam kết “thực hiện nếp sống văn minh đô thị” của hộ gia đình với chính quyền địa phương. Những cam kết như vậy cũng mang tính thỏa thuận, nhưng không phải là hợp đồng, vì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Các cam kết này có thể mang tính ràng buộc, thậm chí sự vi phạm các cam kết ấy có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế (về mặt đạo đức) hay chế tài nhất định (như các chế tài hành chính), nhưng sự vi phạm đó không làm phát sinh trách nhiệm dân sự trong hợp đồng.

Tóm lại, mọi hợp đồng đều là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng không phải sự thỏa thuận nào của các bên cũng là hợp đồng. Chỉ những thỏa thuận tạo ra một sự ràng buộc pháp lý mới được coi là hợp đồng. Bởi vậy, sự thỏa thuận và sự tạo ra một ràng buộc pháp lý là hai đặc điểm cơ bản nhất của hợp đồng dân sự.

1.1.3. Phân loại hợp đồng dân sự

Trong sự đa dạng về nội dung của hợp đồng cũng như phụ thuộc vào cách tiếp cận vấn đề khác nhau mà hợp đồng có thể được phân hành từng nhóm khác nhau dựa trên những căn cứ, dấu hiệu đặc trưng cụ thể:

– Dựa vào mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ giữa các bên chủ thể tham gia hợp đồng, thì hợp đồng được chia thành hai loại là hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ, trong đó:

+ “Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau”,[7] tức là mỗi bên đồng thời là người có nghĩa vụ và có quyền. Trong nội dung của hợp đồng này, quyền dân sự của chủ thể tham gia này đối lập tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể tham gia hợp đồng kia và ngược lại. Ví dụ trong hợp đồng mua bán tài sản, thì bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.

  + “Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ”.[8] Điều này có nghĩa là trong hợp đồng đơn vụ, chỉ có một hay nhiều chủ thể có nghĩa vụ mà không có quyền gì đối với chủ thể kia, còn một hay nhiều chủ thể kia là người có quyền nhưng không phải thực hiện nghĩa vụ nào (ví dụ hợp đồng tặng cho tài sản).

– Dựa vào tính chất có đi có lại về lợi ích của các chủ thể tham gia hợp đồng, hợp đồng được chia thành hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù. Gọi là hợp đồng không có đền bù khi một bên giao tài sản, làm hay không làm một việc vì lợi ích của bên kia mà không nhận lại bất kỳ một lợi ích nào có tính cách hoàn trả. Các hợp đồng không có tính chất đó gọi là hợp đồng có đền bù. Ví dụ hợp đồng mua bán, trao đổi là hợp đồng có đền bù; hợp đồng tặng cho, cho mượn tài sản là hợp đồng không có đền bù; hợp đồng ủy quyền là hợp đồng có hoặc không có đền bù tùy theo việc ủy quyền có kèm điều kiện có thù lao hay không.

– Dựa vào thời điểm phát sinh hiệu lực, hợp đồng được chia thành hợp đồng ưng thuận, hợp đồng thực tại, hợp đồng trọng thức. Trong đó:

+ Hợp đồng ưng thuận có hiệu lực khi các bên gặp gỡ ý chí mà không cần bất kỳ thủ tục nào.

+ Hợp đồng trọng thức có hiệu lực không chỉ trên cơ sở gặp gỡ ý chí mà còn tuân theo một vài thủ tục do pháp luật quy định chẳng hạn như hợp đồng phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thức. Ví dụ: hợp đồng mua bán nhà ở.

+ Hợp đồng thực tại phát sinh hiệu lực không chỉ từ sự gặp gỡ ý chí các bên mà còn tự việc giao vật, đối tượng của hợp đồng. Ví dụ: hợp đồng cho mượn tài sản.

– Dựa vào sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực giữa các hợp đồng, hợp đồng được phân thành hai loại sau:

  + Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ. Theo đó, khi hợp đồng chính đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định, thì đương nhiên phát sinh hiệu lực, nghĩa là phát sinh hiệu lực bắt buộc đối với các bên kể từ thời điểm giao kết.

  + Hợp đồng phụ là hợp đồng mà muốn có hiệu lực khi có hai điều kiện sau: thứ nhất, phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện luật định về chủ thể, nội dung, đối tượng cũng như hình thức của hợp đồng,…; thứ hai, hợp đồng chính có hiệu lực.

Ngoài ra, dựa vào các tiêu chí khác, hợp đồng còn được phân loại thành: hợp đồng thương lượng và hợp đồng theo mẫu; hợp đồng cá nhân và hợp đồng tập thể; hợp đồng thực hiện trong khoảnh khắc và hợp đồng thực hiện tiếp liền trong thời gian; hợp đồng gắn liền với nhân thân người giao kết;…

1.2. Khái quát chung về hợp đồng ủy quyền

1.2.1. Khái niệm hợp đồng ủy quyền

Trong thực tế không phải lúc nào cá nhân hay pháp nhân cũng có thể trực tiếp tham gia vào quan hệ hợp đồng hay các quan hệ pháp lý khác. Việc không tham gia trực tiếp có thể do nhiều lý do khác nhau hoặc khi đã tham gia vào một quan hệ nhất định nhưng không có đủ điều kiện thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Vì vậy, pháp luật cho phép họ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mặt mình giao kết hay thực hiện hợp đồng dân sự[9].  Sự cho phép đó thể hiện bằng hợp đồng ủy quyền.

Trong luật La Mã, hợp đồng ủy quyền được định nghĩa: “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận theo đó một người (gọi là người ủy quyền) giao cho một người khác (gọi là người được ủy quyền) trách nhiệm thực hiện một công việc vì lợi ích của người ủy quyền. Công việc có thể mang tính chất tổng quát hay cụ thể”. Qua đó ta thấy hợp đồng ủy quyền trong luật La Mã là một hợp đồng hữu hảo, không có thù lao và được giao kết vì lợi ích của người ủy quyền. Cũng mang bản chất ấy, hợp đồng ủy quyền trong luật Việt Nam được định nghĩa tại Điều 581 Bộ luật Dân sự 2005: “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Định nghĩa này được giữ nguyên như quy định về hợp đồng ủy quyền tại Điều 585 Bộ luật Dân sự 1995.[10]

Theo luật, người được ủy quyền thực hiện công việc nhân danh người ủy quyền. Trong quan hệ ủy quyền, người được ủy quyền thay mặt người ủy quyền thực hiện một số hành vi nhất định làm phát sinh hậu quả pháp lý liên quan đến lợi ích của người ủy quyền. Vì vậy, đối tượng của ủy quyền là những hành vi pháp lý, những hành vi này không bị pháp luật cấm và không trái với đạo đức xã hội. Từ những hành vi pháp lý mà người được ủy quyền thực hiện, mối quan hệ trực tiếp giữa người ủy quyền với người thứ ba được thiết lập. Việc thực hiện công việc trong hợp đồng ủy quyền là rất rộng, hơn nữa người được ủy quyền trong phạm vi nhất định có thể quyết định việc thực hiện và việc thực hiện các hành vi này lại phát sinh trách nhiệm trực tiếp cho người ủy quyền, do đó trong hợp đồng ủy quyền cần thỏa thuận rõ phạm vi ủy quyền.

1.2.2. Đặc điểm hợp đồng ủy quyền

Vì là một hợp đồng dân sự, hợp đồng ủy quyền mang đủ bản chất chung mà bất kỳ hợp đồng dân sự nào cũng có: là một sự thỏa thuận đạt được giữa các bên chủ thể (người ủy quyền và người được ủy quyền), thỏa thuận này làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa người ủy quyền và người được ủy quyền. Bên cạnh hợp đồng ủy quyền còn có những đặc trưng sau:

1.2.2.1. Hợp đồng ủy quyền là hợp đồng song vụ

Bên ủy quyền có quyền yêu cầu bên được ủy quyền thực hiện đúng phạm vi ủy quyền và có nghĩa vụ cung cấp thông tin, các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện công việc của bên được ủy quyền, thanh toán các chi phí hợp lý mà bên được ủy quyền bỏ ra để thực hiện công việc ủy quyền và phải trả thù lao nếu có thỏa thuận. Tương ứng với quyền và nghĩa vụ bên ủy quyền, bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc trong phạm vi ủy quyền đồng thời có quyền yêu cầu bên ủy quyền cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết để thực hiện công việc ủy quyền, quyền được hưởng thù lao và các chi phí hợp lý cho công việc ủy quyền trên (nếu có thỏa thuận về việc trả thù lao).

1.2.2.2. Hợp đồng ủy quyền là hợp đồng có hoặc không có đền bù

Điều 581 Bộ luật Dân sự 2005 quy định “ bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Điều này có nghĩa, việc trả thù lao không được suy đoán mà phải do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Do đó, trên nguyên tắc, nếu các bên không có thỏa thuận hoặc pháp luật không quy định việc ủy quyền phải trả thù lao thì hợp đồng ủy quyền là hợp đồng không có đền bù, mang tính chất hữu hảo, tương trợ. Ngược lại, một khi việc ủy quyền không mang tính chất hữu hảo, tương trợ (có thù lao) thì ủy quyền là một hợp đồng có đền bù.

1.2.2.3. Đối tượng của hợp đồng ủy quyền là công việc được thực hiện

Công việc mà người được ủy quyền thực hiện nhân danh cho người ủy quyền phải là một giao dịch có tính chất pháp lý. Giao dịch pháp lý mà người được ủy quyền có thể thực hiện thường là giao kết hợp đồng, nhưng cũng có thể là giao dịch một bên như trả tiền, gửi đơn kiện…Người được ủy quyền cũng có thể được giao thực hiện các giao dịch có tính vật chất nhưng đó phải là những giao dịch vật chất gắn liền với giao dịch pháp lý mà người được ủy quyền có trách nhiệm thực hiện và nhất là phải trực tiếp phục vụ cho việc xác lập và thực hiện giao dịch pháp lý đó. Chẳng hạn, người được ủy quyền bán nhà có thể đưa người quan tâm đến việc mua nhà đến khảo sát nhà đất.[11]

1.2.2.4 Người được ủy quyền thực hiện công việc nhân danh người ủy quyền

“Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.[12] Qua định nghĩa trên cho thấy hợp đồng ủy quyền là hợp đồng thuộc nhóm có đối tượng là thực hiện công việc nhưng điểm đặc trưng của nó so với các hợp đồng thực hiện công việc khác (hợp đồng dịch vụ, hợp đồng gửi giữ, hợp đồng gia công…) là người được ủy quyền nhân danh người ủy quyền thực hiện công việc chứ không phải nhân danh chính mình. Những quan hệ được xác lập với người thứ ba từ công việc thực hiện theo hợp đồng ủy quyền sẽ là những quan hệ ràng buộc trực tiếp quyền và nghĩa vụ giữa người ủy quyền và người thứ ba. Còn đối với hợp đồng gia công, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng gửi giữ thì bên nhận gia công, bên cung ứng dịch vụ, bên nhận gửi giữ cũng sẽ phải thực hiện những công việc nhưng nhân danh chính bên cung ứng dịch vụ, bên nhận gửi giữ, bên nhận gia công. Và như thế, những quyền và nghĩa vụ phát sinh sẽ trực tiếp ràng buộc bên nhận gia công, bên cung ứng dịch vụ với người thứ ba.

Hơn nữa, người được ủy quyền khi nhân danh người ủy quyền thực hiện công việc phải vì lợi ích của người ủy quyền chứ không nhắm đến lợi ích của mình. Nếu lợi ích đó chỉ gắn với kết quả công việc thì ta vẫn có một hợp đồng ủy quyền, nhưng nếu lợi ích đó đồng thời cũng là một phần của kết quả công việc thì ta có hợp đồng khác chứ không phải là hợp đồng ủy quyền.

1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của hợp đồng ủy quyền

1.3.1. Từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc 

Từ Bộ luật Hồng Đức dưới thời Lê đến Bộ luật Gia Long dưới thời Nguyễn, Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ Dân luật Trung kỳ ở thời Pháp thuộc, chưa thấy quy định về việc chủ sở hữu ủy quyền định đoạt tài sản mặc dù có những phát triển trong quy định về chế độ sở hữu. Bên cạnh đó, pháp luật thời Lê, thời Nguyễn quy định cụ thể về các khế ước như khế ước mua bán, khế ước vay nợ, khế ước cho thuê động sản, bất động sản, không quy định về khế ước ủy quyền. Đến thời Pháp thuộc, các quy định về chế định khế ước có phát triển, đa dạng hơn nhưng vẫn không thấy khế ước ủy quyền .[13]

1.3.2. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1991

Ngày 02/9/1945, Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đến gần 30 năm sau, 30/4/1975 đất nước ta mới hoàn toàn giải phóng. Giai đoạn này, nền kinh tế nước ta theo cơ chế tập trung bao cấp. Chính cơ chế này đã ảnh hưởng đến đời sống giao lưu dân sự đồng thời ảnh hưởng đến suy nghĩ của các nhà làm luật nên các quy định về hợp đồng đã không phát huy được hiệu quả trong nền kinh tế nói trên. Chính vì thế, những quy định về hợp đồng ủy quyền trong giai đoạn này chưa được ghi nhận rõ.

1.3.3. Từ năm 1991 đến năm 1995

Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã định hướng đổi mới nền kinh tế, từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng abcxyz. Do có bước chuyển mới quan trọng nên trong xã hội cũng có nhiều quan hệ phát sinh, đòi hỏi pháp luật cần có những quy định mới để kịp thời điều chỉnh, đặc biệt trong lĩnh vực hợp đồng.

Trước tình hình đó, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 để tạo hành lang pháp lý cho các quan hệ dân sự trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đề cao trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng, góp phần đẩy mạnh sản xuất kinh doanh lưu thông hàng hóa. Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 đã dành một điều luật để quy định giao kết hợp đồng thông qua người đại diện, cụ thể là đại diện theo ủy quyền (Điều 7 Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991). Tuy nhiên, Pháp đồng dân lệnh hợp sự 1991 còn hạn chế là chưa quy định chi tiết về việc xác lập, thực hiện cũng như chấm dứt hợp đồng ủy quyền.

1.3.4. Từ năm 1995 đến năm 2005

Để khắc phục hạn chế của Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991, ngày 28/10/1995 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa abcxyz Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự 1995 (có hiệu lực ngày 01/7/1996).

Có thể nói đây là Bộ luật Dân sự mang tính pháp điển hóa cao, tập trung hầu hết các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực dân sự, đặc biệt là về lĩnh vực hợp đồng. Bộ luật dân sự 1995 đã quy định cụ thể từng loại hợp đồng cụ thể trong đó có hợp đồng ủy quyền. Có mười điều luật quy định chi tiết về hợp đồng ủy quyền trong Bộ luật Dân sự 1995 (từ Điều 585 đến Điều 594). Việc quy định rõ ràng từ xác lập hợp đồng ủy quyền, quyền và nghĩa vụ của bên ủy quyền và bên được ủy quyền đến chấm dứt hợp đồng ủy quyền là kịp thời trong bối cảnh đời sống giao lưu dân sự diễn ra ngày càng phổ biến và đa dạng.

 1.3.5. Từ năm 2005 đến nay

Sau gần mười năm áp dụng, Bộ luật Dân sự 1995 đã phát huy vai trò lớn trong việc tạo lập một hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập quốc tế đòi hỏi những quy định pháp luật phải đổi mới cho phù hợp. Chính vì lẽ đó, ngày 14/6/2005 tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Dân sự 2005 (có hiệu lực ngày 01/01/2006) nhằm đáp ứng nhu cầu nói trên.

Chín điều luật về hợp đồng ủy quyền trong Bộ luật Dân sự 2005 (từ Điều 581 đến 589) trên cơ sở kế thừa, sửa đổi, bổ sung những quy định về hợp đồng ủy quyền trong Bộ luật Dân sự 1995 làm cho pháp luật về hợp đồng ủy quyền ngày càng hoàn thiện hơn.

1.4. Vai trò của hợp đồng ủy quyền

Cùng với sự phát triển của xã hội là sự thăng hoa của các quan hệ pháp luật. Đặc biệt quan hệ pháp luật dân sự diễn ra phong phú và phức tạp nhưng lại gần gũi nhất trong đời sống. Để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự được thuận tiện và an toàn, Nhà nước lần lượt ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dân sự như Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991, Bộ luật Dân sự 1995 và đỉnh cao cho đến hiện nay là Bộ luật Dân sự 2005. Trong những đạo luật này chứa đựng các quy định về hợp đồng ủy quyền thể hiện được vai trò quan trọng trong đời sống dân sự.

Có thể nói, quy định pháp luật về hợp đồng ủy quyền trong luật hiện hành đã giúp cho đời sống dân sự được vận hành một cách lưu loát. Khi những người tuy có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để tham gia vào các giao dịch dân sự nhưng vì lý do sức khỏe, thời gian hay ít kinh nghiệm hiểu biết trong lĩnh vực giao dịch đó, bằng cơ chế ủy quyền được pháp luật quy định, họ có thể đạt được nhu cầu cần thiết của mình. Hợp đồng ủy quyền trở thành công cụ thúc đẩy các giao dịch dân sự được diễn ra một cách thuận tiện, không trở ngại.

Đồng thời chế định pháp lý về hợp đồng ủy quyền đã tạo hành lang pháp lý an toàn cho mọi người tham gia giao dịch ủy quyền. Việc ủy quyền là thực sự cần thiết trong đời sống hàng ngày. Tuy nhiên không để giao dịch ủy quyền được tự do thiết lập một cách lạm dụng và vô trật tự, pháp luật đã kịp thời điều chỉnh. Quan hệ ủy quyền đã trở thành quan hệ pháp luật và những thỏa thuận về ủy quyền vận hành theo khuôn khổ pháp luật đã quy định. Từ những điều khoản chi tiết về hợp đồng ủy quyền giúp cho những chủ thể nắm bắt được quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ ủy quyền, biết được các trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy quyền. Từ đó tạo tâm lý vững vàng cho các bên tham gia hợp đồng ủy quyền cũng như bên thứ ba là chủ thể của những công việc ủy quyền do bên được ủy quyền thực hiện.

Hợp đồng ủy quyền trong quan niệm truyền thống, như một kỹ thuật pháp lý đặc biệt cho phép một người (bị vướng bận hoặc ở trong tình trạng không thể trực tiếp thực hiện một công việc do bệnh tật, ở xa…) có thể thực hiện được công việc theo dự định nhờ có vai trò của một người khác mà người này hành động nhân danh mình và vì lợi ích của mình. Ví dụ: ủy quyền trông coi, quản lý đất đai, ủy quyền nhận tiền…Trong những mối quan hệ đó, việc ủy quyền thường mang tính chất tương trợ, giúp đỡ nhau trong những lúc cần thiết. Trong cuộc sống hiện đại, ủy quyền được biết đến nhiều hơn như là một dịch vụ được cung ứng bởi một người có năng lực và kinh nghiệm chuyên môn, có điều kiện vật chất cần thiết và được thực hiện theo yêu cầu của người ủy quyền đồng thời là khách hàng trong điều kiện người ủy quyền không có đủ năng lực và kinh nghiệm chuyên môn chứ không chỉ đơn giản là không có thời gian để tự mình thực hiện công việc đó hoặc để thực hiện công việc đó một cách ít tốn kém nhất cả về thời gian và tiền bạc. Sau khi hoàn thành những công việc trên do bên ủy quyền giao cho, bên được ủy quyền sẽ được nhận một khoản thù lao theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Ví dụ: ủy quyền mua bán chứng khoán, ủy quyền thực hiện các công việc liên quan kinh doanh bất động sản…

Bên cạnh đó, pháp luật về hợp đồng ủy quyền có mối liên hệ với chế định đại diện theo ủy quyền vì bản chất bên được ủy quyền đóng vai trò đại điện cho bên ủy quyền. Những quy định về hợp đồng ủy quyền bổ trợ, làm rõ thêm cho mối quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện theo ủy quyền.

Tuy nhiên, cùng với những ưu điểm được phát huy, đã có hành vi lẫn tránh pháp luật khi người ta đã lợi dụng hợp đồng ủy quyền để trục lợi, qua mặt các quy định của pháp luật, gây thiệt hại cho lợi ích cá nhân và cả lợi ích nhà nước. Hơn nữa, quy định hiện hành của pháp luật về hợp đồng ủy quyền chưa phải là toàn năng. Do đó, cần thiết phải tìm hiểu thấu đáo chế định pháp lý về hợp đồng ủy quyền để việc áp dụng vào thực tiễn phát huy được vai trò tích cực của chế định này. Đồng thời, đưa ra được những sự điều chỉnh cho phù hợp với sự vận hành đa dạng thực tiễn đời sống dân sự.

123luat-che-dinh-an-tich

CHƯƠNG 2
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN
VÀ VIỆC ỦY QUYỀN THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN

Từ những lý luận đã tìm hiểu làm nền tảng, trong chương này người viết tập trung phân tích chế độ pháp lý về hợp đồng ủy quyền trong Bộ luật Dân sự 2005 gồm ba giai đoạn: giao kết hợp đồng ủy quyền, thực hiện hợp đồng ủy quyền và chấm dứt hợp đồng ủy quyền. Trên cơ sở đó, người viết đi sâu phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về việc ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án.

2.1. Giao kết hợp đồng ủy quyền

2.1.1. Hình thức của hợp đồng ủy quyền

Hình thức của hợp đồng dân sự nói chung là cách thức biểu hiện ra bên ngoài những nội dung của hợp đồng. Theo đó, những điều khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định, hay nói cách khác hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định.

 Đối với hình thức của hợp đồng ủy quyền, Điều 581 Bộ luật Dân sự 2005 chỉ quy định: “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Đồng thời, Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Dân sự 2005 ghi nhận: “Hình thức ủy quyền do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy quyền phải được lập thành văn bản”. Có thể thấy, Bộ luật Dân sự 2005 quy định ngoài trường hợp pháp luật quy định bắt buộc việc ủy quyền phải lập văn bản thì trên nguyên tắc, hợp đồng ủy quyền tồn tại dưới hình thức nào sẽ do thỏa thuận của các bên. Khi đó hình thức hợp đồng ủy quyền tuân theo những quy định về hình thức hợp đồng dân sự nói chung. Hình thức hợp đồng dân sự được ghi nhận tại Điều 401 Bộ luật Dân sự 2005, theo đó hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hay bằng hành vi cụ thể, nếu pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực thì phải tuân theo các quy định đó. Từ đó suy ra, trừ trường hợp pháp luật quy định hợp đồng ủy quyền phải được lập thành văn bản thì hợp đồng ủy quyền có thể được giao kết bằng lời nói, văn bản hoặc lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hay bằng hành vi tùy theo thỏa thuận của các bên.

Trước đây, Bộ luật Dân sự 1995 quy định hình thức hợp đồng ủy quyền tại Điều 586: “Hợp đồng ủy quyền phải được lập thành văn bản, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định, thì hợp đồng ủy quyền phải có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền”. Hình thức văn bản hoặc văn bản được công chứng, chứng thực là điều kiện có hiệu lực bắt buộc đối với hợp đồng ủy quyền. Và khi không tuân theo hình thức này thì hợp đồng ủy quyền sẽ bị vô hiệu theo Điều 131, Điều 133 và Điều 136 Bộ luật Dân sự 1995.[14] Nhưng tập quán vẫn chấp nhận một số hợp đồng ủy quyền được giao kết theo nguyên tắc ưng thuận và bằng lời nói ví dụ như gửi giữ động sản và ủy quyền cho người giữ bán động sản đó. Trong trường hợp các bên giao kết hợp đồng ủy quyền bằng lời nói và không có bên nào kiện cáo về hình thức giao kết thì hợp đồng ủy quyền vẫn có giá trị.

Có lẽ để hợp thức hóa tập quán giao dịch trên, đồng thời để đáp ứng nhu cầu giao dịch ủy quyền diễn ra trong đời sống được thuận tiện, Bộ luật Dân sự 2005 đã không còn ràng buộc hợp đồng ủy quyền vào hình thức văn bản. Đây là một ưu điểm của Bộ luật Dân sự 2005 so với Bộ luật Dân sự 1995. Tuy nhiên, vì công việc mà người được ủy quyền thực hiện nhân danh người ủy quyền là một giao dịch có tính chất pháp lý, nên thông thường các bên sẽ giao kết hợp đồng ủy quyền bằng văn bản, nếu công việc liên quan đến tài sản và nhân thân của người ủy quyền hoặc các bên cảm thấy việc công chứng, chứng thực là cần thiết thì hợp đồng ủy quyền này còn được công chứng hoặc chứng thực. Nếu công việc mà người ủy quyền giao cho người được ủy quyền thực hiện mang tính vật chất thì thông thường người ủy quyền chỉ cần ủy quyền miệng cho người được ủy quyền. Hợp đồng ủy quyền dưới hình thức văn bản hay có văn bản được công chứng, chứng thực sẽ giúp cho bên được ủy quyền có căn cứ để giới thiệu tư cách đại diện và thẩm quyền đại diện của mình trước người thứ ba và có giá trị chứng cứ để chứng minh nếu có tranh chấp xảy ra. Nếu quan hệ ủy quyền được xác lập thông qua hình thức miệng thì nếu có tranh chấp phải có căn cứ để chứng minh cho quan hệ đó tồn tại hoặc tất cả các bên quan hệ đều thừa nhận thì Tòa án mới có căn cứ để giải quyết.

Hợp đồng ủy quyền còn được lập thành văn bản, được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật. Đơn cử, Khoản 6 Điều 63 Nghị định 71/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định “Hợp đồng ủy quyền quản lý, trông coi, sử dụng nhà ở, ủy quyền bán, cho thuê nhà ở phải có công chứng hoặc chứng thực”. Riêng đối với hợp đồng ủy quyền quản lý nhà ở, theo tiến trình đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp thì ngày 28/02/2012, Văn phòng Chính phủ đã có thông báo số 63/TB-VPCP về kết luận của Thủ tướng Chính phủ về việc bãi bỏ yêu cầu bắt buộc công chứng đối với hợp đồng này. Theo đó, trong tương lai, hợp đồng ủy quyền quản lý nhà ở nếu được công chứng, chứng thực là theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Theo người viết, phương án bãi bỏ yêu cầu bắt buộc công chứng đối với hợp đồng ủy quyền quản lý nhà ở là hoàn toàn phù hợp, bởi lẽ đây là giao dịch thực hiện quyền năng của người sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất, không làm dịch chuyển quyền sở hữu hợp pháp, nên các rủi ro pháp lý được hạn chế hơn.

Trên thực tế, văn bản ủy quyền có hai loại là “hợp đồng ủy quyền” và “giấy ủy quyền”. Bộ luật Dân sự 2005 cũng như các văn bản quy phạm pháp luật về công chứng, chứng thực hiện hành không đề cập đến “giấy ủy quyền”. Nhưng tại Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực quy định: “Việc ủy  quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản phải được lập thành hợp đồng”. Tiếp theo, tại Khoản 2 cùng điều luật quy định “Việc ủy quyền không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì không phải lập thành hợp đồng ủy quyền mà có thể được lập thành giấy ủy quyền và chỉ cần người ủy quyền ký vào giấy ủy quyền”. Điều 67 Luật công chứng về hiệu lực thi hành không quy định Nghị định số 75/2000/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn hết hiệu lực thi hành.[15] Do đó, thực tế hình thức “giấy ủy quyền” vẫn tồn tại. Giấy ủy quyền hiện được sử dụng cho những trường hợp ủy quyền đơn giản như ủy quyền nhận trợ cấp thương binh hàng tháng, ủy quyền nhận giấy tờ. Theo Nghị định 75/2000/NĐ-CP thì giấy ủy quyền chỉ cần chữ ký của người ủy quyền thì khi đó, ủy quyền bằng giấy ủy quyền là một hành vi pháp lý dân sự đơn phương. Để giấy ủy quyền mang bản chất của một hợp đồng ủy quyền và chịu sự điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng ủy quyền thì giấy ủy quyền cần có đủ chữ ký của bên ủy quyền và bên được ủy quyền. [16]

2.1.2. Năng lực giao kết hợp đồng

2.1.2.1. Bên ủy quyền

Muốn tồn tại hợp đồng ủy quyền trước hết đòi hỏi người ủy quyền phải có năng lực giao kết hợp đồng ủy quyền. Luật cũng đã khẳng định rằng người tham gia giao dịch dân sự phải có năng lực hành vi dân sự.[17] Ngoài năng lực giao kết hợp đồng còn đỏi hỏi bên ủy quyền phải có năng lực thực hiện công việc giao cho người được ủy quyền. Bởi suy cho cùng, công việc hay giao dịch pháp lý đó là do chính người ủy quyền thực hiện nhưng vì lí do nhất định nên không thể tự mình thực hiện mà phải trao quyền thực hiện đó cho người khác. Ủy quyền bán tài sản thì người ủy quyền phải có quyền định đoạt tài sản đó, nếu không, hợp đồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu hoặc bị hủy bỏ. Nếu hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu trong trường hợp người được ủy quyền biết người ủy quyền không có có năng lực hiện công việc ủy quyền  nhưng vẫn giao kết hợp đồng ủy quyền, thì cần thiết lập tình trạng trách nhiệm liên đới giữa người ủy quyền và người được ủy quyền để bồi thường thiệt hại cho người thứ ba ngay tình cùng tham gia xác lập giao dịch được ghi nhận trong hợp đồng ủy quyền. Tuy nhiên, trách nhiệm dân sự của người được ủy quyền trong trường hợp này không được quy định rõ ràng trong khung cảnh của luật thực định. Trách nhiệm dân sự sẽ thể hiện rõ ràng nhất ở người ủy quyền.

Pháp luật quy định chủ thể có quyền ủy quyền tại Khoản 1 Điều 143 Bộ luật Dân sự 2005: “Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”. Điều luật này không nhắc đến chủ thể hộ gia đình và tổ hợp tác. Nhưng hộ gia đình vẫn được đại diện theo ủy quyền bằng cơ chế chủ hộ ủy quyền cho thành viên khác trong hộ tham gia giao dịch dân sự (Khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự 2005). Tương tự, tổ hợp tác được quyền ủy quyền thông qua vai trò của tổ trưởng tổ hợp tác khi người này ủy quyền cho tổ viên thực hiện một số công việc nhất định cần thiết cho tổ (Khoản 1 Điều 113 Bộ luật Dân sự 2005). Suy cho cùng, ủy quyền là việc một “người” ủy quyền cho một “người” khác thực hiện công việc nhân danh mình hay nhân danh chủ thể mà mình đại diện theo pháp luật.

2.1.2.2. Bên được ủy quyền

Người được ủy quyền chỉ cần có năng lực giao kết hợp đồng ủy quyền chứ không nhất thiết phải có năng lực thực hiện công việc được giao theo hợp đồng ủy quyền. Bởi vì bản chất ủy quyền là công việc được thực hiện nhân danh người ủy quyền chứ không nhân danh người được ủy quyền, người được ủy quyền chỉ là công cụ mà người ủy quyền sử dụng để thực hiện công việc.[18]

Theo Khoản 2 Điều 143 Bộ luật Dân sự 2005, “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện”. Về nguyên tắc, người từ đủ mười lăm tuổi đã có thể đóng vai trò người được ủy quyền trừ khi pháp luật bắt buộc công việc ủy quyền phải do người từ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện. Trước đây Bộ luật Dân sự 1995 quy định “Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo ủy quyền”.[19] Từ quy định đó, có thể suy lý ngược và cho ra khẳng định người đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự mới được làm người đại diện theo ủy quyền. Quy định của Bộ luật Dân sự 2005 đã tạo nên sự phá cách mang tính tích cực so với quy định về cùng nội dung người có thể làm đại diện theo ủy quyền trong Bộ luật Dân sự 1995. Có nhiều quy định hiện hành khẳng định vai trò chủ thể của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi như người từ đủ mười lăm tuổi trở lên đã trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật lao động; có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật nếu có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ…Do đó, pháp luật quy định người từ mười lăm tuổi trở lên có thể làm người đại diện theo ủy quyền tạo nên sự nhất quán trong những chế định pháp luật và cả thực tiễn áp dụng.

Khoản 2 Điều 143 Bộ luật Dân sự 2005 đã không còn đề cập đến hai nhóm người là người mất năng lực hành vi dân sự và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự như khẳng định cụ thể tại Khoản 2 Điều 152 Bộ luật Dân sự 1995. Bởi lẽ, người mất năng lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo ủy quyền vì vốn dĩ giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật của người này xác lập, thực hiện. Còn đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, pháp luật hạn chế những giao dịch dân sự liên quan dến tài sản của họ sẽ phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu hàng ngày. Những giao dịch khác ngoài giao dịch liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người này có thể tự xác lập, thực hiện. Tuy nhiên, Điều 589 Bộ luật Dân sự 2005 quy định hợp đồng ủy quyền chấm dứt khi bên được ủy quyền bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Do đó, theo logic của sự việc, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo ủy quyền, không được giao kết hợp đồng ủy quyền.

Tuy nhiên, nếu một người phá tán tài sản do nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác mà chưa bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự thì vẫn có quyền đại diện theo ủy quyền. Trong trường hợp một người không có khả năng nhận thức được hành vi của mình nhưng chưa bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự giao kết việc ủy quyền với tư cách là người được ủy quyền, thì hợp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu do không có sự ưng thuận của người được ủy quyền, nếu có đủ bằng chứng cho thấy ở thời điểm giao kết, người được ủy quyền thực sự trong tình trạng không nhận thức được hành vi của mình. Trong trường hợp người ngược lại, ví dụ như người bị tâm thần phân liệt giao kết lúc đang tỉnh táo, thì hợp đồng ủy quyền vẫn có giá trị. Khi đó, nếu người được ủy quyền có thực hiện được giao trong lúc không nhận thức được hành vi của mình, nhưng lại hoàn toàn phù hợp với nội dung hợp đồng ủy quyền, thì người ủy quyền vẫn bị ràng buộc vào các quan hệ xác lập từ công việc đó.

Bên cạnh người được ủy quyền là cá nhân, pháp luật còn cho phép pháp nhân là người được ủy quyền. Một khi một bên ủy quyền cho pháp nhân đại diện cho mình thì pháp nhân có vai trò như một tổ chức cung ứng dịch vụ có đầy đủ năng lực chuyên môn để thực hiện công việc theo sự ủy quyền của khách hàng. Một chủ đầu tư bất động sản có thể ủy quyền cho sàn giao dịch bất động sản thực hiện việc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở thương mại nhân danh chủ đầu tư.[20] Một nhà đầu tư chứng khoán khi mở tài khoản giao dịch chứng khoán có quyền ủy quyền cho công ty chứng khoán thực hiện giao dịch thay cho mình.[21] Khi đó, mặc dù tham gia ký kết hợp đồng ủy quyền với người đại diện của sàn giao dịch bất động sản hay công ty chứng khoán, nhưng bên được ủy quyền vẫn là chính sàn giao dịch bất động sản hay công ty chứng khoán đó. Chính pháp nhân này chịu trách nhiệm thực hiện công việc theo hợp đồng ủy quyền và chịu trách nhiệm trước bên ủy quyền theo nội dung ủy quyền.

2.1.3. Đối tượng của hợp đồng ủy quyền

Đối tượng của hợp đồng là nội dung của nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng hay đúng hơn là sự đáp ứng của người giao kết đối với người cùng giao kết trong khuôn khổ thực hiện hợp đồng.[22] Những đối tượng cụ thể của hợp đồng được nêu tại Khoản 1 Điều 402 Bộ luật Dân sự 2005 bao gồm tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm. Đối với hợp đồng ủy quyền, hợp đồng này có đối tượng là một công việc phải thực hiện hay đúng hơn là một giao dịch pháp lý phải được xác lập hoặc được thực hiện hoặc phải được xác lập và thực hiện. Giao dịch pháp lý phải được xác định hoặc có thể được xác định, tức là giao dịch pháp lý này phải cụ thể làm sao cho người được ủy quyền biết để xác lập, thực hiện hay xác lập và thực hiện. Bên cạnh đó, công việc ủy quyền – giao dịch pháp lý mà người được ủy quyền phải thực hiện không được vi phạm điều cấm của pháp luật, tức không được thực hiện những hành vi mà pháp luật không cho phép. Bởi khi pháp luật đã không cho phép thực hiện hành vi nhất định thì chủ thể không thể có quyền thực hiện hành vi đó. Một khi chủ thể không có quyền thì càng không thể trao quyền mà mình không có cho người khác. Đồng thời, công việc mà người được ủy quyền thực hiện theo hợp đồng ủy quyền cũng không được trái với đạo đức xã hội, không trái với những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội mà những chuẩn mực chung nay đã được thừa nhận và tôn trọng.

2.1.4. Thời hạn của hợp đồng ủy quyền

Điều 582 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Thời hạn ủy quyền do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không thỏa thuận và pháp luật không quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực một năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền”. Nội dung điều luật này được giữ nguyên theo quy định về thời hạn ủy quyền tại Điều 587 Bộ luật Dân sự 1995.

Khi thỏa thuận thời hạn ủy quyền, các bên có thể thỏa thuận số ngày cụ thể hoặc có thể là một sự kiện bởi vì thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra.[23] Ví dụ, có thể thỏa thuận thời hạn ủy quyền kết thúc khi bán xong nhà. Đối với những công việc kéo dài, lặp đi lặp lại nhiều lần như ủy quyền nhận hàng, ủy quyền quản lý tài sản trong thời gian dài thì các bên cần thỏa thuận rõ thời hạn.

 Thời hạn ủy quyền thực chất là thời hạn tồn tại tư cách của người ủy quyền và người được ủy quyền chứ không phải là thời hạn thực hiện công việc được giao. Bởi lẽ, nếu chính công việc được giao phải thực hiện trong một thời hạn thì thực hiện công việc trong một thời hạn đó là nội dung nghĩa vụ của người được ủy quyền. Khi thời hạn ủy quyền kết thúc, hợp đồng ủy quyền chấm dứt và các bên giao kết hợp đồng ủy quyền không còn mang tư cách đó nữa. Nếu công việc chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa xong và người ủy quyền vẫn muốn người được ủy quyền tiếp tục thay mình thực hiện công việc đó, thì các bên phải giao kết hợp đồng ủy quyền mới hoặc gia hạn hợp đồng cũ. Sau khi hợp đồng ủy quyền hết hạn, nếu không gia hạn hợp đồng cũ và không giao kết hợp đồng mới mà người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện công việc ủy quyền thì người này sẽ ở trong tình trạng thực hiện công việc không có ủy quyền nếu người ủy quyền không biết hoặc biết nhưng không phản đối.

Thời hạn là yếu tố không thể thiếu trong hợp đồng ủy quyền. Hợp đồng ủy quyền cần thời hạn để có tác dụng chấm dứt hợp đồng ủy quyền một cách đương nhiên khi thời hạn ủy quyền kết thúc. Khi đó sẽ bảo vệ được quyền và lợi ích của người ủy quyền. Bởi sẽ có khả năng người được ủy quyền vẫn tiếp tục dựa vào hợp đồng ủy quyền để giao dịch trong điều kiện quan hệ giữa người ủy quyền và người được ủy quyền đã thay đổi hoặc việc ủy quyền không còn cần thiết mà người ủy quyền không còn nhớ đến hợp đồng ủy quyền trước đây để đơn phương chấm dứt thực hiện.[24]

2.2. Hiệu lực của hợp đồng ủy quyền

 Hợp đồng ủy quyền có tác dụng xác lập hai nhóm quan hệ: quan hệ giữa người ủy quyền với ược ủy quyền; và quan hệ giữa người ủy quyền, người được ủy quyền với bên thứ ba.

2.2.1. Hiệu lực của hợp đồng ủy quyền trong quan hệ giữa người ủy quyền và người được ủy quyền

2.2.1.1. Quyền và nghĩa vụ của người được ủy quyền

a. Nghĩa vụ của người được ủy quyền

Trong quan hệ hợp đồng ủy quyền, người được ủy quyền có những nghĩa vụ được quy định tại Điều 584 như sau:

Bên được uỷ quyền có các nghĩa vụ sau đây:

  1. Thực hiện công việc theo uỷ quyền và báo cho bên uỷ quyền về việc thực hiện công việc đó;
  2. Báo cho người thứ ba trong quan hệ thực hiện uỷ quyền về thời hạn, phạm vi uỷ quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi uỷ quyền;
  3. Bảo quản, giữ gìn tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện việc uỷ quyền;
  4. Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc uỷ quyền;
  5. Giao lại cho bên uỷ quyền tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc uỷ quyền theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật;
  6. Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này”.

– Nghĩa vụ thực hiện công việc

Khoản 1 Điều 584 quy định bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc theo ủy quyền. Thực hiện công việc là nghĩa vụ chính và quan trọng nhất của người được ủy quyền. Người được ủy quyền phải tiến hành thực hiện công việc theo cách thức mà người ủy quyền giao trong hợp đồng. Nếu hợp đồng không có thỏa thuận về cách thức thực hiện thì người được ủy quyền phải thực hiện công việc một cách tốt nhất, tận tụy nhất, như công việc của chính mình.

Người được ủy quyền thực hiện công việc trước hết vì lợi ích của người ủy quyền bởi ủy quyền là một quan hệ đại diện. Điều này cũng được quy định tại Khoản 1 Điều 139 Bộ luật Dân sự 2005: “Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”. Người được ủy quyền không được thỏa hiệp với người thứ ba để xâm phạm lợi ích của người ủy quyền. Để ngăn ngừa người được ủy quyền dùng thủ thuật không trung thực ảnh hưởng đến lợi ích của người ủy quyền, luật đã bắt buộc “Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp được pháp luật có quy định khác” (khoản 5 Điều 144 Bộ luật Dân sự 2005). Điều luật này đã có sửa đổi tích cực hơn so với Điều 153 Bộ luật Dân sự 1995 khi Điều luật sau này chỉ không cho phép người đại diện thực hiện giao dịch với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện. Tuy nhiên Bộ luật Dân sự 2005 đã không ngăn cản được bao quát hết trường hợp người đại diện có thể làm xâm hại đến lợi ích của người được đại diện. Có thể nêu điển hình trường hợp người được ủy quyền tuy không trực tiếp xác lập, thực hiện giao dịch với người ủy quyền nhưng có thể gián tiếp thông qua người thứ ba mà người được ủy quyền là người thân thuộc của người này. Lúc này điều luật đã không phát huy hết được vai trò của mình.

Người được ủy quyền phải trực tiếp thực hiện công việc ủy quyền. Nhưng người được ủy quyền cũng có thể ủy quyền lại cho người khác nếu với bằng hết khả năng và điều kiện của mình, người được ủy quyền không thể tự trực tiếp thực hiện được. Điều 583 Bộ luật Dân sự 2005 quy định cơ chế ủy quyền lại:

“Người được ủy quyền chỉ có thể ủy quyền lại cho người thứ ba, nếu được người ủy quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định.

Hình thức hợp đồng ủy quyền lại cũng phải phù hợp với hình thức hợp đồng ủy quyền ban đầu.

Việc ủy quyền lại không được vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu”.

Người ủy quyền đồng ý ở hai cấp độ: đồng ý giản đơn và đồng ý có điều kiện. Đồng ý giản đơn là người ủy quyền cho phép người được ủy quyền ủy quyền lại và tùy ý lựa chọn người được ủy quyền lại. Trong khi đồng ý có điều kiện, người ủy quyền chỉ đồng ý cho người được ủy quyền ủy quyền lại cho những người mà người ủy quyền ban đầu chấp nhận.

Luật chỉ dừng lại ở việc cho phép người được ủy quyền có thể ủy quyền lại cho người thứ ba, không quy định mối quan hệ giữa người ủy quyền, người được ủy quyền và người được ủy quyền lại. Công việc do người được ủy quyền lại thực hiện vẫn sẽ ràng buộc người ủy quyền. Người ủy quyền lại chưa hẳn không còn trách nhiệm gì đối với người ủy quyền ban đầu khi có thiệt hại do người được ủy quyền lại gây ra cho người ủy quyền ban đầu. Khi có thiệt hại xảy ra do người được ủy quyền lại vi phạm các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng ủy quyền, thì trên nguyên tắc, người ủy quyền ban đầu có thể suy xét khả năng chịu trách nhiệm (vật chất) mà kiện hoặc người ủy quyền lại hoặc người được ủy quyền lại mà không quan tâm đến yếu tố lỗi của người ủy quyền lại. Nếu kiện người ủy quyền lại thì người này sẽ tiếp tục kiện người được ủy quyền lại để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, nếu hợp đồng ủy quyền không có thù lao và người ủy quyền đồng ý ủy quyền lại có điều kiện thì khi có thiệt hại xảy ra cho người ủy quyền ban đầu do lỗi của người được ủy quyền lại thì người ủy quyền ban đầu chỉ có thể kiện trực tiếp người được ủy quyền lại và chỉ có thể kiện người ủy quyền lại khi người sau này cùng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại đó.[25] Khi người ủy quyền lại vi phạm nghĩa vụ thanh toán thù lao cho người được ủy quyền lại nếu cả hợp đồng ủy quyền ban đầu và hợp đồng ủy quyền lại đều có thù lao thì người được ủy quyền lại có thể kiện trực tiếp người ủy quyền ban đầu để đòi thù lao.

Luật quy định hình thức hợp đồng ủy quyền lại phải phù hợp với hình thức hợp đồng ủy quyền ban đầu, có nghĩa hợp đồng ủy quyền lại được giao kết theo cùng một hình thức với hợp đồng ủy quyền ban đầu. Chẳng hạn, hợp đồng ủy quyền được giao kết bằng hình thức văn bản có công chứng, chứng thực thì hợp đồng ủy quyền lại cũng giao kết bằng văn bản được công chứng, chứng thực. Nếu pháp luật bắt buộc hợp đồng ủy quyền phải lập văn bản có công chứng hoặc chứng thực thì việc hợp đồng ủy quyền lại cũng phải tuân theo hình thức ấy là điều hiển nhiên. Tuy nhiên, nếu hợp đồng ủy quyền được lập văn bản, có công chứng, chứng thực theo thỏa thuận của các bên chứ pháp luật không bắt buộc thì nguyên tắc hợp đồng ủy quyền lại vẫn phải lập văn bản, có công chứng, chứng thực. Song, nếu không ai trong các bên của hợp đồng ủy quyền có đòi hỏi gì thì hợp đồng ủy quyền lại không cần phù hợp với hình thức ủy quyền ban đầu, miễn là hình thức đó phù hợp với quy định pháp luật.[26]

– Nghĩa vụ thông báo

+Báo cho người ủy quyền:

Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2005 quy định bên được ủy quyền có nghĩa vụ “thực hiện công việc theo ủy quyền và báo cho bên ủy quyền về việc thực hiện công việc đó”. Người được ủy quyền không nhất thiết phải báo cho người ủy quyền biết về từng chi tiết liên quan đến quá trình thực hiện công việc ủy quyền, nhưng phải thông báo những điểm đáng chú ý và những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện công việc. Khi kết thúc thời hạn ủy quyền hay khi hoàn thành công việc ủy quyền, người được ủy quyền phải thông báo kết quả công việc cho người ủy quyền.

+ Báo cho bên thứ ba:

Người được ủy quyền có nghĩa vụ “báo cáo cho bên thứ ba trong quan hệ thực hiện ủy quyền về thời hạn ủy quyền, phạm vi ủy quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi ủy quyền” (Khoản 2 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2005). Nghĩa vụ thông báo này hiển nhiên cần thiết vì người được ủy quyền chỉ thực hiện công việc nhân danh người ủy quyền, thông báo để người thứ ba biết những công việc cụ thể mà người được ủy quyền được phép thực hiện. Luật quy định rằng, người được ủy quyền báo cho người thứ ba về thời hạn và phạm vi ủy quyền và việc sửa đổi, bổ sung về phạm vi ủy quyền chứ không đề cập nghĩa vụ thông báo khi có sửa đổi về thời hạn ủy quyền. Chắc hẳn, khi có sự thay đổi về thời hạn ủy quyền thì suy nghĩ một cách hợp lý, người được ủy quyền cũng phải báo cho người thứ ba về sự thay đổi này.

– Nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài liệu và phương tiện được giao

Để thực hiện công việc ủy quyền, người được ủy quyền có thể được giao một số phương tiện (có thể là phương tiện đi lại hay phương tiện làm việc) và các tài liệu (như sổ sách, hồ sơ, chứng từ, hợp đồng). Người được ủy quyền phải bảo quản và sử dụng tài liệu và phương tiện này theo thỏa thuận trong hợp đồng ủy quyền. Nếu hợp đồng không có thỏa thuận thì phải bảo quản như của chính mình. Nếu việc bảo quản đòi hỏi chi phí thì có thể yêu cầu người ủy quyền cung cấp chi phí hoặc tự bỏ chi phí bảo quản và yêu cầu người ủy quyền hoàn trả. Nếu là tài sản khó bảo quản hoặc không thể bảo quản suốt trong thời gian thực hiện công việc thì người được ủy quyền có thể bán và hoàn trả số tiền bán được cho người ủy quyền nhưng phải báo cho người ủy quyền biết về việc bán tài sản. Nếu người được ủy quyền làm mất mát, hư hỏng tài sản được giao thì phải bồi thường thiệt hại trừ trường hợp thiệt hại do nguyên nhân bất khả kháng.

– Nghĩa vụ giữ bí mật thông tin

Khoản 4 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2005 quy định người được ủy quyền phải “giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc ủy quyền”. Đây là nghĩa vụ để bảo vệ người ủy quyền cũng để tạo niềm tin giữa hai bên trong hợp đồng hợp đồng ủy quyền. Người được ủy quyền không chỉ phải giữ bí mật thông tin trong khi thực hiện việc ủy quyền trong thời hạn của hợp đồng ủy quyền, kể cả khi hợp đồng ủy quyền kết thúc thời hạn, người được ủy quyền vẫn phải không được tiết lộ những thông tin này cho đến khi không cần thiết phải giữ bí mật nữa. Bên ủy quyền hoàn toàn có quyền kiện người được ủy quyền về việc vi phạm nghĩa vụ này kể cả khi hợp đồng ủy quyền hết hiệu lực.[27]

– Nghĩa vụ giao trả

Khoản 5 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2005 quy định nghĩa vụ giao trả rằng bên được ủy quyền phải “giao lại cho bên ủy quyền tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc ủy quyền theo thỏa thuận hoặc theo quy định pháp luật”. Tài sản đã nhận bao gồm cả tài sản ban đầu người ủy quyền giao cho người được ủy quyền để thực hiện công việc ủy quyền và tài sản nhận được từ người thứ ba thay cho người ủy quyền. Phương thức và địa điểm giao nhận theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, có thể giao theo định kỳ, giao sau khi nhận hoặc giao sau khi kết thúc công việc. Nhìn chung, người được ủy quyền phải giao trả toàn bộ tài sản, lợi ích thu được cho người ủy quyền mà không cần phải có thỏa thuận, trừ trường hợp có thỏa thuận không cần giao trả một phần tài sản, lợi ích nào đó. Khi đó, tài sản, lợi ích này mang tính chất thù lao cho người được ủy quyền.

– Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại

Nghĩa vụ này được quy định tại Khoản 6 Điều 584. Người được ủy quyền phải bồi thường nếu vi phạm các nghĩa vụ tại Khoản 1, 2, 3, 4, 5 cùng Điều luật nếu gây thiệt hại cho người ủy quyền. Cần chú ý là nếu người được ủy quyền chậm giao lại số tiền đã nhận thì phải trả cả lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự 2005.[28]

b. Quyền của người được ủy quyền

Bên cạnh những nghĩa vụ, Điều 585 Bộ luật Dân sự quy định quyền của người người được ủy quyền.

“ Bên được uỷ quyền có các quyền sau đây:

  1. Yêu cầu bên uỷ quyền cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết để thực hiện công việc uỷ quyền;
  2. Hưởng thù lao, được thanh toán chi phí hợp lý mà mình đã bỏ ra để thực hiện công việc uỷ quyền.”

– Để thực hiện tốt công việc ủy quyền, người được ủy quyền có quyền yêu cầu người ủy quyền cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết liên quan đến việc thực hiện công việc. Đây là quyền tương ứng với nghĩa vụ hợp tác của người ủy quyền.[29] Người được ủy quyền không chịu trách nhiệm nếu công việc ủy quyền không được thực hiện tốt do không được đáp ứng các yêu cầu này. Người được ủy quyền có thể đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền nếu thấy việc không đáp ứng yêu cầu về cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện chắc chắn sẽ dẫn đến việc không thể thực hiện được công việc ủy quyền.[30]

– Bên được ủy quyền được nhận thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Chẳng hạn Luật Kinh doanh bất động sản quy định môi giới bất động sản được hưởng thù lao không phụ thuộc vào kết quả nội dung công việc môi giới trong đó có hoạt động môi giới đại diện theo ủy quyền để thực hiện công việc liên quan đến kinh doanh bất động sản.[31] Nếu hai bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định về thời điểm và địa điểm nhận thù lao thì về nguyên tắc, bên được ủy quyền nhận thù lao khi thực hiện xong công việc ủy quyền, tại địa điểm hoàn thành công việc ủy quyền.

Bên được ủy quyền được thanh toán chi phí hợp lý mà mình đã bỏ ra để thực hiện công việc ủy quyền kể cả khi các bên không thỏa thuận. Khoản chi phí này phải hợp lý và cần thiết (nếu đó là công việc của mình thì người được ủy quyền cũng chi như vậy).

2.2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của người ủy quyền

a. Nghĩa vụ của người ủy quyền

Điều 586 Bộ luật Dân sự 2006 quy định người ủy quyền có những nghĩa vụ sau đây:

“1. Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết để bên được uỷ quyền thực hiện công việc;

2. Chịu trách nhiệm về cam kết do bên được uỷ quyền thực hiện trong phạm vi uỷ quyền;

3. Thanh toán chi phí hợp lý mà bên được uỷ quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc được uỷ quyền và trả thù lao cho bên được uỷ quyền, nếu có thoả thuận về việc trả thù lao”.

– Nghĩa vụ hợp tác:

Tương ứng với quyền yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện của người được ủy quyền là nghĩa vụ hợp tác của người ủy quyền phải cung cấp đầy dủ thông tin, tài liệu hay phương tiện cần thiết để người được ủy quyền thực hiện công việc ủy quyền một cách tốt nhất. Nghĩa vụ hợp tác này cũng xuất phát từ lợi ích của người ủy quyền. Người ủy quyền phải tạo điều kiện thuận lợi nhất theo khả năng của mình để người được ủy quyền hoàn thành công việc được giao.

– Nghĩa vụ chịu trách nhiệm về cam kết do bên được ủy quyền thực hiện trong phạm vi ủy quyền:

Bản chất hợp đồng ủy quyền là thực hiện công việc nhân danh người khác, vì vậy người ủy quyền phải chịu trách nhiệm về các cam kết do người được ủy quyền thực hiện nhân danh người ủy quyền trong phạm vi hợp đồng ủy quyền. Ở đây cần đặc biệt chú ý đến phạm vi ủy quyền vì bên ủy quyền sẽ không chịu trách nhiệm nếu bên được ủy quyền thực hiện những công việc ngoài phạm vi ủy quyền được giao. Còn nếu những cam kết trong phạm vi ủy quyền mà không có lợi cho mình thì người ủy quyền vẫn phải chịu trách nhiệm đối với người thứ ba.

– Nghĩa vụ thanh toán thù lao và hoàn trả chi phí:

Tiền thù lao cho người được ủy quyền sẽ do người ủy quyền và người được thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Chẳng hạn, Luật Kinh doanh bất động sản quy định người môi giới bất động sản thực hiện công việc ủy quyền sẽ được thù lao. Các bên thỏa thuận mức thù lao, nếu không có thỏa thuận sẽ áp dụng thù lao theo tập quán nghề nghiệp. Thù lao được người ủy quyền thanh toán ngay thời điểm và tại địa điểm hoàn thành công việc ủy quyền nếu như không có thỏa thuận hoặc pháp luật không quy định. Tuy Khoản 3 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2005 không nói rõ nhưng thù lao phải được người ủy quyền thanh toán cho người được ủy quyền ngay cả trong trường hợp công việc ủy quyền hoàn thành không như ý muốn của người ủy quyền.

Luật không đòi hỏi người ủy quyền phải ứng trước chi phí cho người được ủy quyền để người này thực hiện công việc. Thông thường, người được ủy quyền không chuyên nghiệp sẽ được người ủy quyền ứng trước một khoản tiền, nếu không, người được ủy quyền sẽ ghi nợ với người thứ ba rồi người ủy quyền sẽ thanh toán cho người thứ ba. Còn người được ủy quyền chuyên nghiệp sẽ chi trước để thực hiện công việc, rồi yêu cầu người ủy quyền hoàn lại cho mình hoặc ghi nợ với người thứ ba rồi yêu cầu người ủy quyền đưa tiền cho mình để thanh toán cho người thứ ba. Thời điểm và địa điểm hoàn trả chi phí theo thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì hoàn trả chi phí cùng lúc với thời điểm và cùng địa điểm thanh toán thù lao.

b. Quyền của người ủy quyền

Bên ủy quyền có những quyền được quy định tại Điều 587 Bộ luật Dân sự 2005:

“1. Yêu cầu bên được uỷ quyền thông báo đầy đủ về việc thực hiện công việc uỷ quyền;

2. Yêu cầu bên được uỷ quyền giao lại tài sản, lợi ích thu được từ việc thực hiện công việc uỷ quyền, nếu không có thoả thuận khác;

3. Được bồi thường thiệt hại, nếu bên được uỷ quyền vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 584 của Bộ luật này”.

Đây là những quyền làm phát sinh những nghĩa vụ tương ứng của người được ủy quyền như đã tìm hiểu tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2005.

Vì công việc mà người được ủy quyền thực hiện là nhân danh người ủy quyền và có hiệu lực ràng buộc người ủy quyền nên một cách hợp lý, người ủy quyền có quyền yêu cầu người được ủy quyền thông báo đầy đủ về việc thực hiện công việc ủy quyền. Quyền yêu cầu tại Khoản 1 Điều 587 Bộ luật Dân sự giúp người ủy quyền biết những vấn đề phát sinh trong lúc thực hiện công việc để có những xử lý kịp thời.

Người ủy quyền còn có quyền yêu cầu người được ủy quyền giao lại tài sản, lợi ích thu được từ việc thực hiện công việc ủy quyền bởi vì bản chất những tài sản, những lợi ích này thuộc sở hữu của người ủy quyền. Người được ủy quyền chỉ là người làm thay và nhân danh người ủy quyền, chứ không là chủ thể của công việc theo hợp đồng ủy quyền với bên thứ ba nên những tài sản, những lợi ích này không gắn liền với người được ủy quyền.

Ngoài ra, người ủy quyền còn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu người được ủy quyền vi phạm các nghĩa vụ của người được ủy quyền. Quyền này hiển nhiên tồn tại để bảo vệ quyền lợi của người ủy quyền, để người được ủy quyền hành  xử theo đúng nghĩa vụ của mình, không gây phương hại cho người ủy quyền. Nếu vi phạm những nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm trước người ủy quyền.

2.2.2. Hiệu lực của hợp đồng ủy quyền trong quan hệ giữa hai bên giao kết hợp đồng ủy quyền với bên thứ ba

2.2.2.1. Quan hệ giữa người được ủy quyền với bên thứ ba

Theo luật, người được ủy quyền thực hiện công việc ủy quyền nhân danh người ủy quyền, là đại diện cho người ủy quyền nên về nguyên tắc, người được ủy quyền không có quan hệ pháp luật với người thứ ba. Mặc dù là người trực tiếp đứng ra xác lập giao dịch với bên thứ ba nhưng không phải là chủ thể của giao dịch đó. Cho nên, giao dịch đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ gì đối với người được ủy quyền.

Tuy nhiên, có những ngoại lệ mà người được ủy quyền phải gánh chịu những hệ quả pháp lý từ những giao dịch do chính mình xác lập. Đó là trường hợp người được ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch trong hoàn cảnh không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện. Suy cho cùng, vượt quá phạm vi đại điện là một trường hợp đặc thù của không có quyền đại diện. Khoản 1 Điều 145 Bộ luật Dân sự 2005 nói rằng “Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người đại diện hoặc người được đại diện đồng ý. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện phải thông báo cho người được đại diện hoặc người đại diện của người đó để trả lời trong thời hạn ấn định; nếu hết thời hạn này mà không trả lời thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, nhưng người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện”. Điều luật này đã có sửa đổi so với Điều 154 Bộ luật Dân sự 1995 khi thêm vào nghĩa vụ thông báo của người đã tham gia giao dịch với người không có quyền đại diện cho người đại diện hoặc người được đại diện biết về giao dịch được xác lập mà không có quyền đại diện. Việc thông báo này mang ý nghĩa tích cực để người sau này thể hiện rõ ý chí của mình trong một thời hạn ấn định. Tuy nhiên, quy định sửa đổi, bổ sung này cũng có bất cập: nếu quy định người đã giao dịch với người không có quyền đại diện phải thông báo cho người được đại diện hoặc người đại diện của người đó biết để người sau này trả lời trong một thời hạn nhất định, thì điều đó có nghĩa là người đã giao dịch biết mình đã xác lập, thực hiện giao dịch với người không có quyền đại diện. Hết thời hạn trả lời mà người đại diện hoặc người được đại diện không trả lời thì giao dịch đó không phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện. Tuy nhiên, đoạn sau của Khoản 1 Điều 145 Bộ luật Dân sự 2005 (nhưng người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện) không còn ý nghĩa. Nội dung của điều luật này còn có điểm chưa rõ ràng ở chỗ trong trường hợp nào thì người đã giao dịch không biết mình đã xác lập, thực hiện giao dịch với người không có quyền đại diện trong khi chính bản thân họ đã gửi thông báo cho người đại diện hoặc người được đại diện về việc họ đã xác lập, thực hiện giao dịch với người không có quyền đại diện.[32]

Trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết việc người tự xưng người được ủy quyền không có quyền đại diện mà vẫn tham gia giao dịch thì theo câu chữ của Điều 145 Bộ luật Dân sự 2005, người không có quyền đại diện không phải thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ ba, tức giao dịch này vô hiệu đối với người không có quyền đại diện và người thứ ba. Và người ủy quyền cũng không phải chịu ràng buộc nghĩa vụ gì đối với người thứ ba.

Nhưng ý nghĩa chính của điều luật là giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện mà chính người không có quyền đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã tham gia giao dịch.

Tương tự, Khoản 1 Điều 146 Bộ luật Dân sự 2005 về giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện quy định: “Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối; nếu không được sự đồng ý thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện”. Khi ủy quyền, người ủy quyền (là người được đại diện) đã xác định phạm vi những giao dịch mà người được ủy quyền (người đại diện) được phép xác lập, thực hiện. Nếu người được ủy quyền xác lập, thực hiện những giao dịch ngoài phạm vi ủy quyền đã được xác định thì người này phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch về giao dịch vượt quá phạm vi ủy quyền khi người ủy quyền không đồng ý các giao dịch này sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho mình.

Một ngoại lệ của nguyên tắc người được ủy quyền không có quan hệ pháp luật với người thứ ba nữa, đó là người được ủy quyền biết hoặc phải biết người ủy quyền không có năng lực thực hiện công việc ủy quyền nhưng vẫn chấp nhận thực hiện công việc được giao. Như đã tìm hiểu ở tiểu mục 2.1.2.1, trong trường hợp này người được ủy quyền và người ủy quyền nên phải cùng chịu trách nhiệm về hệ quả pháp lý của công việc ủy quyền với người thứ ba. Một người ủy quyền cho người khác bán tài sản mà mình không có quyền sở hữu, người được ủy quyền biết về điều đó nhưng vẫn bán, người mua ngay tình. Khi tài sản đó bị chủ sở hữu tài sản kiện đòi lại thì người được ủy quyền và người ủy quyền phải cùng chịu trách nhiệm dân sự đối với người mua. Tuy nhiên, trách nhiệm này thể hiện rõ ràng nhất ở người ủy quyền còn người được ủy quyền không được xác định rõ.

2.2.2.2. Quan hệ giữa người ủy quyền với bên thứ ba

  Xuất phát từ bản chất ủy quyền, người được ủy quyền thực hiện công việc thay và nhân danh người ủy quyền nên trên nguyên tắc, người ủy quyền là chủ thể của giao dịch do người được ủy quyền xác lập, thực hiện trong phạm vi ủy quyền. Những cam kết do người được ủy quyền xác lập sẽ ràng buộc người ủy quyền. Trong trường hợp người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba hoặc xác lập, thực hiện giao dịch vượt quá phạm vi đại diện như đã tìm hiểu ở tiểu mục 2.2.2.1, các giao dịch này sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người ủy quyền trừ trường hợp người ủy quyền đồng ý chấp nhận là chủ thể của các giao dịch đó. Tuy nhiên, giao dịch do người không có quyền đại diện hoặc giao dịch vượt qua phạm vi đại diện vẫn có khả năng ràng buộc người được đại diện khi người này chấp thuận. Sự chấp thuận thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào, kể cả mặc nhiên đồng ý như trường hợp người ủy quyền bán tài sản chấp nhận việc bán tài sản với giá thấp bằng cách nhận tiền bán được.

Điều 145 Bộ luật Dân sự 2005 không đề cập đến vấn đề người được ủy quyền có biết hoặc không biết mình là người không có quyền đại hiện. Khi người được ủy quyền không biết mình có quyền đại diện mà xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba trong điều kiện người thứ ba biết là người không có quyền đại diện nhưng vẫn tham gia giao dịch thì giao dịch này vô hiệu; còn nếu người thứ ba cũng không biết người tự xưng là người được ủy quyền không có quyền đại diện, thì giao dịch này vẫn có giá trị. Giao dịch này có giá trị giữa người thứ ba và người không có quyền đại diện chứ người ủy quyền không là chủ thể của giao dịch này.

2.3. Chấm dứt hợp đồng ủy quyền

2.3.1. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy quyền

Điều 589 Bộ luật Dân sự 2005 quy định các trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy quyền:

“1. Hợp đồng uỷ quyền hết hạn;

  1. Công việc được uỷ quyền đã hoàn thành;
  2. Bên uỷ quyền, bên được uỷ quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 588 của Bộ luật này;
  3. Bên uỷ quyền hoặc bên được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết”.

Ta lần lượt tìm hiểu các trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy quyền theo luật định.

2.3.1.1. Thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc ủy quyền đã hoàn thành

Khi xác lập hợp đồng ủy quyền, người ủy quyền và người được ủy quyền thỏa thuận thời hạn của hợp đồng. Nếu hai bên không có thỏa thuận hoặc pháp luật không có quy định thì thời hạn hợp đồng là một năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền. Hết thời hạn này, hợp đồng ủy quyền chấm dứt hiệu lực mặc dù công việc ủy quyền đã hoàn thành hay chưa. Nếu các bên muốn tiếp tục duy trì công việc ủy quyền thì gia hạn hợp đồng cũ hoặc giao kết một hợp đồng ủy quyền mới.

Khi công việc theo hợp đồng ủy quyền đã hoàn thành thì hợp đồng ủy quyền cũng chấm dứt theo Khoản 2 Điều 589 Bộ luật Dân sự 2005. Được xem là hoàn thành công việc khi công việc được thực hiện toàn bộ như đã thỏa thuận. Nếu không có thỏa thuận thì dựa vào mục đích của công việc ủy quyền  để nhận định công việc đã hoàn thành hay chưa.[33]

2.3.1.2. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền

Xuất phát từ tư tưởng chủ đạo rằng, hợp đồng ủy quyền là hợp đồng dựa trên sự tin tưởng, khi lòng tin bị giảm sút thì việc duy trì quan hệ ủy quyền là không cần thiết. Khi đó, cả bên ủy quyền và bên được ủy quyền đều có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền. Điều 588 Bộ luật Dân sự 2005 quy định:

“1. Trong trường hợp uỷ quyền có thù lao, bên uỷ quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao cho bên được uỷ quyền tương ứng với công việc mà bên được uỷ quyền đã thực hiện và bồi thường thiệt hại; nếu uỷ quyền không có thù lao thì bên uỷ quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được uỷ quyền một thời gian hợp lý.

Bên uỷ quyền phải báo bằng văn bản cho người thứ ba biết về việc bên uỷ quyền chấm dứt thực hiện hợp đồng; nếu không báo thì hợp đồng với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp người thứ ba biết hoặc phải biết về việc hợp đồng uỷ quyền đã bị chấm dứt.

  1. Trong trường hợp uỷ quyền không có thù lao, bên được uỷ quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên uỷ quyền biết một thời gian hợp lý; nếu uỷ quyền có thù lao thì bên được uỷ quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào và phải bồi thường thiệt hại cho bên uỷ quyền”.

– Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền theo ý chí của người ủy quyền:

Khoản 1 Điều 588 quy định rằng trong trường hợp ủy quyền không có thù lao thì người ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên được ủy quyền biết một thời gian hợp lý. Nhưng thường người được ủy quyền sẽ ngưng ngay công việc đang thực hiện theo hợp đồng ủy quyền khi được người ủy quyền thông báo về việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền mà không chờ đến hết một thời hạn này. Nếu hợp đồng ủy quyền có thù lao thì người ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào và trả thù lao tương ứng với phần công việc đã thực hiện. Dường như người ủy quyền không cần phải báo trước cho bên được ủy quyền một thời gian hợp lý, chỉ cần có thông báo cho người được ủy quyền biết.

Khoản 1 Điều 588 Bộ luật Dân sự còn quy định người ủy quyền có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho người ba biết mình đã đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền. Quy định này tránh gây thiệt hại cho bên thứ ba do việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của người ủy quyền gây nên. Nếu không thông báo thì cam kết giữa người được ủy quyền với người thứ ba vẫn có hiệu lực ràng buộc đối với người ủy quyền. Còn nếu người ủy quyền đã thông báo hoặc trường hợp người thứ ba biết hoặc phải biết hợp đồng ủy quyền đã chấm dứt mà vẫn giao dịch với người được ủy quyền thì hợp đồng đó không có hiệu lực đối với người ủy quyền. Khi đó, người được ủy quyền và người thứ ba chịu trách nhiệm với nhau về hợp đồng này.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là có nên quy định hình thức của thông báo chấm dứt hợp đồng ủy quyền trong trường hợp nào cũng bằng văn bản không. Đặc biệt là khi hợp đồng ủy quyền chỉ được giao kết bằng lời nói, người ủy quyền hoặc người được ủy quyền chỉ thông báo với người thứ ba việc người được ủy quyền đại diện cho người ủy quyền bằng lời nói (gặp trực tiếp hoặc thông qua điện thoại). Trong trường hợp này, khi chấm dứt hợp đồng ủy quyền, người ủy quyền không nhất thiết phải thông báo bằng văn bản mà người ủy quyền chỉ cần thông báo bằng lời nói cho người thứ ba.[34]

– Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền theo ý chí của người được ủy quyền:

Người được ủy quyền cũng có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền tương tự người ủy quyền. Nếu hợp đồng ủy quyền có thù lao thì người được ủy quyền có thể đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, cũng không cần phải báo trước một thời gian, và phải bồi thường thiệt hại cho người ủy quyền. Nếu hợp đồng ủy quyền không có thù lao thì người được ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào nhưng phải báo cho bên ủy quyền biết trước một khoảng thời gian hợp lý để người ủy quyền chuẩn bị sắp xếp nhận bàn giao công việc, tìm người đại diện mới.

2.3.1.3. Người ủy quyền, người được ủy quyền chết

Vì công việc theo hợp đồng ủy quyền được thực hiện vì lợi ích và nhân danh người ủy quyền nên khi người ủy quyền chết, tư cách chủ thể trong hợp đồng ủy quyền không thể chuyển giao cho người thừa kế của người ủy quyền. Do đó, hợp đồng ủy quyền chấm dứt hiệu lực một cách mặc nhiên. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện công việc ủy quyền mặc dù lúc này hợp đồng ủy quyền đã chấm dứt mà người thừa kế của người ủy quyền không biết hoặc biết nhưng không phản đối. Lúc này, người được ủy quyền ở trong tình trạng thực hiện công việc không có ủy quyền và hợp đồng ủy quyền không có giá trị đối với người thứ ba. Nếu có nắm giữ tài sản của người thì người được ủy quyền ở trong tình trạng người quản lý thực tế di sản.[35]

Khi người được ủy quyền chết, nghĩa vụ thực hiện công việc ủy quyền cũng không được chuyển giao cho người thừa kế của người này. Vì vậy, hợp đồng ủy quyền cũng chấm dứt hiệu lực. Nhưng do có nghĩa vụ hoàn trả những gì đã nhận từ người ủy quyền hoặc người thứ ba cho người ủy quyền nên, nghĩa vụ này sẽ do người thừa kế của người được ủy quyền thực hiện. Nếu hợp đồng ủy quyền có thù lao hoặc người được ủy quyền đã tự bỏ ra chi phí cần thiết để trang trãi cho việc thực hiện công việc theo hợp đồng ủy quyền thì người ủy quyền vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả thù lao và thanh toán chi phí hợp lý cho người thừa kế của người được ủy quyền.

2.3.1.4. Người ủy quyền, người được ủy quyền mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự

Khoản 4 Điều 589 Bộ luật Dân sự 2005 nói rằng, người ủy quyền hoặc người được ủy quyền bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì hợp đồng ủy quyền sẽ chấm dứt. Hợp đồng ủy quyền chỉ chấm dứt hiệu lực khi có quyết định có hiệu lực của Tòa án rằng người ủy quyền, người được ủy quyền mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Tuy nhiên, đối với người ủy quyền, khi bị tuyên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì những giao dịch nhỏ, nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày người ủy quyền vẫn có thể tự mình xác lập, thực hiện mà không cần sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người này. Do đó, nhưng hợp đồng ủy quyền có đối tượng là những giao dịch này sẽ vẫn có hiệu lực đối với người ủy quyền.

Khi người được ủy quyền bị tuyên bố mất năng lực hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi thì người này không còn năng lực thực hiện công việc ủy quyền. Thiết nghĩ, khi đã biết người được ủy quyền không còn năng lực thực hiện công việc theo hợp đồng ủy quyền thì người ủy quyền nên sử dụng cơ chế đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền mà không cần chờ hợp đồng ủy quyền chấm dứt bằng tuyên bố của Tòa án rằng người được ủy quyền mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

2.3.1.5. Người ủy quyền, người được ủy quyền bị Tòa án tuyên bố mất tích hoặc đã chết

Đối với trường hợp người ủy quyền bị Tòa án tuyên bố mất tích, người quản lý tài sản từ lúc người mất tích vắng mặt tại nơi cư trú tiếp tục quản lý tài sản theo hiệu lực của Điều 79 Bộ luật Dân sự 2005. Điều luật này dẫn chiếu đến Khoản 1 Điều 75 Bộ luật Dân sự 2005 rằng người được người vắng mặt ủy quyền quản lý tài sản sẽ là người tiếp tục quản lý tài sản đó.

Từ đó cho thấy, từ lúc người mất tích vắng mặt thì người được ủy quyền của người này đã quản lý tài sản cho đến khi có quyết định tuyên bố mất tích vẫn tiếp tục quản lý. Tuy nhiên, khi có quyết định tuyên bố mất tích thì hợp đồng ủy quyền mới chấm hiệu lực. Tức trong giai đoạn từ sau có quyết định tuyên bố vắng mặt đến trước khi tuyên bố mất tích, người được ủy quyền vừa là người quản lý tài sản vừa là người được ủy quyền của người vắng mặt. Nhưng thiết nghĩ, chỉ nên tồn tại tư cách người được ủy quyền chứ không cần thiết phải song song với tư cách người quản lý tài sản.

Đối với trường hợp người được ủy quyền bị tuyên bố mất tích, thực tế người ủy quyền không cần đợi đến khi Tòa án tuyên bố mất tích mới chấm dứt hiệu lực của hợp đồng ủy quyền. Bởi lẽ, khi người được ủy quyền vắng mặt, người ủy quyền không còn lợi ích gì từ hợp đồng ủy quyền do công việc ủy quyền không được thực hiện nên người ủy quyền sẽ chọn giải pháp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền sẽ hiệu quả hơn đợi đến lúc người được ủy quyền bị tuyên bố mất tích.

Trường hợp người ủy quyền hoặc người được ủy quyền bị tuyên bố đã chết theo Điều 81 Bộ luật Dân sự 2005 thì đây là cái chết pháp lý. Các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản được giải quyết như đối với người đã chết nên, hiệu lực của hợp đồng ủy quyền giữa người ủy quyền và người được ủy quyền lúc này chấm dứt như trường hợp người ủy quyền hoặc người ủy quyền chết.

Bởi là một hợp đồng dân sự, ngoài các trường hợp hợp đồng ủy quyền chấm dứt được quy định cụ thể, hợp đồng ủy quyền còn chấm dứt theo luật chung như người ủy quyền và người được ủy quyền thỏa thuận chấm dứt hợp đồng ủy quyền mặc dù chưa hết thời hạn của hợp đồng, hợp đồng ủy quyền bị hủy bỏ, hợp đồng ủy quyền không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn,…

2.3.2. Chấm dứt hợp đồng ủy quyền và quyền lợi của bên thứ ba

Tuy hợp đồng ủy quyền chấm dứt giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền nhưng có trường hợp, đối với người thứ ba, hợp đồng này vẫn còn tồn tại hiệu lực. Điều 588 Bộ luật Dân sự 2005 về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền quy định nếu bên ủy quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền mà không thông báo cho người thứ ba biết thì hợp đồng ủy quyền đối với người thứ ba vẫn còn hiệu lực, trừ trường hợp người thứ ba biết hoặc phải biết hợp đồng ủy quyền đã chấm dứt. Còn các trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy quyền khác không thấy quy định trách nhiệm thông báo cho người thứ ba từ bên ủy quyền hay bên được ủy quyền.

Ngoài trường hợp người ủy quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì hiệu lực hợp đồng ủy quyền đối với người thứ ba tùy thuộc vào việc thông báo của người ủy quyền, các trường hợp còn lại, hợp đồng ủy quyền chấm dứt đối với người thứ ba mà không cần thủ tục thông báo. Lúc này, nếu người được ủy quyền tiếp tục thực hiện công việc như trong hợp đồng ủy quyền đã chấm dứt thì người này rơi vào tình trạng người không có quyền đại diện. Và người thứ ba không biết sự chấm dứt hiệu lực của hợp đồng ủy quyền mà tham giao giao dịch với người không có quyền đại diện thì giao dịch này vẫn có giá trị và phải được thực hiện. Giao dịch này có giá trị ràng buộc người không có quyền đại diện phải thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba.

2.4 Hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án

Hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng về bản chất vẫn là một dạng của hợp đồng ủy quyền trong dân sự, được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, đối tượng, công việc được ủy quyền trong trường hợp này lại là một vấn đề mang tính pháp lý chứ không phải là một công việc mang tính vật chất. Công việc được ủy quyền ở đây là “đại diện để tham gia tố tụng”. Do đó, hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng còn được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật về tố tụng. Trong phần này, người viết chỉ phân tích những quy định về hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng chưa được đề cập trong Bộ luật dân sự. Về cơ bản, “người đại diện theo ủy quyền được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự”[36], nói cách khác thì hợp đồng ủy quyền được quy định trong Bộ luật dân sự là hợp đồng ủy quyền trong tố tụng dân sự.

2.4.1  Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng

2.4.1.1 Điều kiện về mặt hình thức

Pháp luật dân sự cũng như tố tụng dân sự hiện hành chưa có một quy định cụ thể về hình thức của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 74 BLTTDS thì “người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền”.

Về mặt câu chữ của luật, cho đến thời điểm hiện tại chưa có văn bản nào có quy định bắt buộc việc ủy quyền tham gia tố tụng, hay nói cách khác là hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng phải được lập thành văn bản. Song, với tính chất của công việc được ủy quyền trong trường hợp này liên quan đến việc xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý quan trọng trong quá trình tố tụng của người được ủy quyền, thực tiễn áp dụng pháp luật trong công tác xét xử chỉ chấp nhận các hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng được lập thành văn bản.

Về việc công chứng, chứng thực hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng. Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” không có hướng dẫn cụ thể về vấn đề hình thức của văn bản ủy quyền tham gia tố tụng. Đối chiếu với nội dung khoản 2 Điều 74 BLTTDS thì chỉ quy định hình thức ủy quyền là bằng văn bản, chứ không đòi hỏi văn bản ủy quyền phải được công chứng chứng thực. Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về thủ tục phúc thẩm thì “Việc uỷ quyền được hướng dẫn tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản uỷ quyền đó được lập tại Toà án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc cán bộ Toà án được Chánh án Toà án phân công. Trong văn bản uỷ quyền phải có nội dung đương sự uỷ quyền cho người đại diện theo uỷ quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm”. Theo đó, việc ủy quyền tại các khoản 4,5 và 6 được đề cập nêu trên chỉ là việc ủy quyền để kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm. Hướng dẫn này được kế thừa từ các hướng dẫn trước đây tại Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Như vậy, cho đến thời điểm hiện tại, pháp luật chỉ buộc các bên phải công chứng, chứng thực hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng trong trường hợp công việc được ủy quyền là kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.

Tuy nhiên, theo tham luận của Tòa Dân sự TANDTC tại hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2009 thì “Việc ủy quyền tham gia tố tụng phải được thể hiện bằng văn bản. Trong trường hợp đương sự gửi văn bản ủy quyền đến Tòa án, để bảo đảm nội dung văn bản ủy quyền là có thực, đúng ý chí của người ủy quyền và làm căn cứ để Tòa án xử lý về tố tụng thì văn bản ủy quyền cần có công chứng hoặc chứng thực. Trong trường hợp nội dung ủy quyền không rõ ràng thì Tòa án phải yêu cầu họ thể hiện thật rõ nội dung và phạm vi ủy quyền. Tòa án chỉ xem xét những ý kiến, đề xuất, yêu cầu của người được ủy quyền trong phạm vi ủy quyền; các hành vi tốtụng, các yêu cầu do người được ủy quyền nêu ra vượt ra ngoài phạm vi ủy quyền sẽ không có giá trị pháp lý, không phải là căn cứ để Tòa án quyết định. Do vậy, đối với các trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi gửi văn bản ủy quyền thì Tòa án phải kiểm tra xem xét về nội dung, phạm vi ủy quyền và văn bản đó đã được hợp pháp hóa lãnh sự hay chưa; nếu văn bản ủy quyền được lập tại Việt Nam thì phải được công chứng hoặc chứng thực thì văn bản ủy quyền đó mới có giá trị pháp lý. Trường hợp đương sự hoặc người được ủy quyền… gửi giấy ủy quyền tới Tòa án, mà giấy ủy quyền đó chưa được hợp pháp hóa lãnh sự hoặc chưa được công chứng, chứng thực thì Tòa án phải yêu cầu đương sự làm lại cho đúng quy định pháp luật. Khi đương sự thực hiện việc ủy quyền đúng quy định của pháp luật Tòa án mới giải quyết vụ án”. Đối chiếu với nội dung trên trong tham luận của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao năm 2009 có thể khẳng định nếu đương sự gửi văn bản ủy quyền đến Tòa án thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc hợp pháp hóa lãnh sự thì mới có giá trị pháp lý. Trường hợp đương sự (người ủy quyền) và người được ủy quyền ủy quyền bằng văn bản trực tiếp tại Tòa án tham luận không đề cập đến nhưng theo nội dung hướng dẫn của Nghị quyết 06/2012/NQ- HĐTP là được chấp nhận.

Như vậy, dù không có những quy định cụ thể nhưng với các hướng dẫn và tổng kết thực tiễn của cơ quan có thẩm quyền, chúng ta có thể khẳng định hình thức của hợp đồng ủy quyền phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc hợp pháp hóa lãnh sự. Trường hợp không thực hiện việc ủy quyền bằng văn bản thì đương sự ủy quyền và người được ủy quyền phải thực hiện việc ủy quyền trực tiếp tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc cán bộ Toà án được Chánh án Toà án phân công.

Song, thực tiễn công tác xét xử đã cho thấy, vấn đề hình thức của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng vẫn còn nhiều tranh cãi và dẫn đến không ít khó khăn trong việc ủy quyền tham gia tố tụng giữa các đương sự. Chúng tôi sẽ phân tích cụ thể trong Chương 3 của tiểu luận.

2.4.1.2 Điều kiện về chủ thể

Như đã phân tích, chủ thể của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng vẫn phải tuân thủ các quy định của pháp luật dân sự, như các hợp đồng ủy quyền thông thường khác. Tuy nhiên, ngoài năng lực giao kết hợp đồng ủy quyền được chú ý nhiều trong các hợp đồng ủy quyền thông thường, do tính chất công việc được ủy quyền, pháp luật tố tụng dân sự hạn chế nhiều hơn về mặt chủ thể khi giao kết hợp đồng ủy quyền.

Điều 75 Bộ luật tố tụng dân sự quy định những người sau đây không được làm người đại diện theo ủy quyền:

– Nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ án với người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện;

– Nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ án;

– Cán bộ, công chức trong các ngành Tòa án, Kiểm sát, Công an không được làm người đại diện trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.

Khoản 3 Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự cũng quy định, đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng.

Như vậy, bên cạnh những điều kiện về năng lực giao kết đã được quy định cụ thể trong pháp luật dân sự, những người được liệt kê nêu trên không thể trở thành chủ thể của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng. Tuy nhiên, việc giới hạn chủ thể giao kết hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng nêu trên thực tế vẫn còn nhiều quan điểm trái ngược nhau, chúng tôi sẽ phân tích về vấn đề này trong Chương 3 của tiểu luận.

2.4.2 Nội dung và phạm vi của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng

Khác với các hợp đồng ủy quyền dân sự thông thường, hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng có công việc được ủy quyền mang ý nghĩa pháp lý rất quan trọng, nhằm xác lập cũng như ảnh hưởng đến các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong một vụ án. Theo quy định tại Điều 74 BLTTDS thì “người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền”.

Chính vì vậy, việc xác định nội dung ủy quyền, phạm vi ủy quyền trong hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng được thiết lập giữa đương sự và người được ủy quyền có ý nghĩa rất quan trọng khi Tòa án xem xét giải quyết vụ việc dân sự. Nếu trong văn bản ủy quyền tham gia tố tụng dân sự mà nội dung ủy quyền và phạm vi ủy quyền tham gia tố tụng không rõ ràng thì Tòa án không chấp nhận văn bản ủy quyền đó và yêu cầu đương sự phải thực hiện lại việc ủy quyền trong đó xác định rõ nội dung, phạm vi ủy quyền tham gia tố tụng.

Trong thực tiễn giải quyết vụ án dân sự, có trường hợp về mặt hình thức đương sự lập văn bản ủy quyền, hợp đồng ủy quyền có công chứng, chứng thực nhưng không có nội dung ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng; Tòa án không thể xác định có việc ủy quyền tham gia tố tụng và giải quyết vắng mặt đương sự được.

Ví dụ: vụ án thừa kế do TAND tỉnh Sóc Trăng giải quyết: Trong số những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụán có anh Ngô Văn T đang định cư tại Mỹ, trong hồ sơ vụ án có “tờ ủy quyền” đề ngày 15.4.2005 (có chứng thực của Ủy ban nhân dân phường X, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng) có nội dung anh T ủy quyền cho chị Ngô Thị D như sau “Ủy quyền lại khổ phần cho em tôi là Ngô Thị D, để có đầy đủ hồ sơ cung cấp cho TA tỉnh về việc thừa kế của ông bà để lại tại tỉnh ST do TA tỉnh Sóc Trăng thụ lý”. Với nội dung ủy quyền như trên không phải là anh T ủy quyền cho chị D tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy nếu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xác định chị D là người được anh T ủy quyền và tiến hành giải quyết, xét xử vắng mặt anh T là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Vì trong một vụ án thừa kế nói chung, ngoài việc hưởng kỷ phần thừa kế như văn bản đã nêu, anh T còn nhiều quyền và nghĩa vụ tố tụng khác. Việc ủy quyền lại kỷ phần thừa kế được hưởng và việc tham gia tố tụng tại Tòa án là hai việc hoàn toàn khác nhau.

Ngoài ra, trong một số trường hợp như hướng dẫn tại khoản 8 Điều 2 của Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, khi người được ủy quyền thực hiện việc kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án thì “trong văn bản uỷ quyền phải có nội dung đương sự uỷ quyền cho người đại diện theo uỷ quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm”. Theo đó, nội dung của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng cần phải xác định một cách rõ ràng. Đối tượng cũng như công việc được ủy quyền trong trường hợp này không chỉ gói gọn trong việc “tham gia tố tụng” mà là từng hành vi cụ thể trong suốt quá trình tố tụng.

2.4.3 Chấm dứt hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng

Bộ luật dân sự 2005 đã quy định bốn trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy quyền nói chung (tại Điều 589) như sau:

+ Hợp đồng ủy quyền hết hạn;

+ Công việc được ủy quyền đã hoàn thành;

+ Bên ủy quyền, bên nhận ủy quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định tại Điều 588 của Bộ luật này (Bộ luật dân sự);

+ Bên ủy quyền hoặc bên nhận ủy quyền chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

Theo quy định trên thì pháp luật dân sự đã xác định rõ các trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy quyền của các bên đương sự. Tuy nhiên, trên thực tế đã có một số trường hợp chưa đủ cơ sở xác định hợp đồng ủy quyền của các bên đã chấm dứt hay chưa.

Ví dụ: Vào năm 1983 bà L có bán cho bà V một tầng của căn nhà 03 tầng, tuy nhiên sau đó cơ quan chức năng đã xác định bà V chưa đủ điều kiện mua nhà (theo quy định lúc bấy giờ). Sau đó bà V đã khởi kiện bà L về việc tranh chấp hợp đồng mua bán nhà, mà cụ thể là yêu cầu bà L bồi thường cho bà số tiền đã đưa trước tương đương 80 lượng vàng. Vụ án được giải quyết nhiều lần nhưng bị giám đốc thẩm hủy, trong quá trình giải quyết vụ án thì bị đơn bà L sang định cư tại Hoa Kỳ, sau đó bà L ủy quyền cho con rể của mình là ông K nhân danh mình đến Tòa án tham gia tố tụng trong vụ kiện trên. Tuy nhiên, đến năm 2010 ông K bị bệnh tai biến (có xác nhận của bệnh viện), không thể đi lại để tham gia tố tụng trong vụ kiện trên, nên Tòa án đã có văn bản thông báo cho bà L biết và yêu cầu bà cung cấp ý kiến của mình, sau đó phía gia đình của bà L chuyển cho Tòa án giấy xác nhận của bệnh viện (ở Hoa Kỳ) do bà L đã 85 tuổi nên không còn minh mẫn nữa để trực tiếp tham gia tố tụng hay làm ủy quyền lại cho người khác. Để xác định bà L hoặc ông K bị hạn chế năng lực hành vi hay mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 và 23 của Bộ luật Dân sự thì phải có kết luận của tổ chức giám định, có yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì sẽ giải quyết bằng một việc dân sự, nhưng cả phía gia đình ông L, bà L và cả phía nguyên đơn bà V đều không có yêu cầu. Cho nên việc xác định hợp đồng ủy quyền giữa bà L và ông K còn hiệu lực pháp luật hay đã chấm dứt hiện nay cũng còn nhiều quan điểm trái ngược chiều nhau:

– Quan điểm 1: Cho rằng hợp đồng ủy quyền giữa bà L và ông K vẫn hiệu lực pháp luật, bởi lẽ hiện nay pháp luật chỉ quy định 04 trường hợp hợp đồng ủy quyền chấm dứt ủy quyền mà hợp đồng ủy quyền này không thuộc 04 trường hợp trên; trong khi đó bà L hay ông K không có yêu cầu chấm dứt hợp đồng ủy quyền giữa hai bên và Tòa án cũng chưa có Quyết định về hạn chế năng lực hay mất năng lực hành vi của bà L hay ông K. Do đó, hợp đồng ủy quyền này vẫn còn hiệu lực pháp luật.

– Quan điểm 2: Không đồng tình với quan điểm 1, quan điểm 2 cho rằng hợp đồng ủy quyền giữa bà L và ông K đã chấm dứt và không còn hiệu lực pháp luật, bởi theo quy định tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự trong trường hợp này người nhận ủy quyền là ông K không còn khả năng thực hiện công việc ủy quyền của bà L, nên hợp đồng ủy quyền này đương nhiên không còn hiệu lực pháp luật.

Từ hai quan điểm trên, đối chiếu với quy định của pháp luật về những trường hợp hợp đồng ủy quyền chấm dứt thì pháp luật dân sự chưa quy định cụ thể về trường hợp trên. Tuy nhiên, trong hai quan điểm trên thì quan điểm 1 có lẽ phù hợp hơn, bởi lẽ pháp luật đã xác định chỉ có 04 trường hợp hợp đồng ủy quyền chấm dứt, đối với trường hợp trên thì chỉ khi nào bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên bố bà L hoặc ông K bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc chết thì hợp đồng ủy quyền mới hết hiệu lực pháp luật.

Phiên họp công khai chứng cứ
Phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải – Ảnh minh họa

CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG TRONG VIỆC ỦY QUYỀN THAM GIA TỐ TỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Hợp đồng ủy quyền là một chế định hợp đồng dân sự. Trong xã hội hiện nay việc ủy quyền đang ngày càng trở nên thông dụng, thậm chí đã xuât hiện những người (bên cạnh các Luật sư) chuyên thực hiện các công việc được người khác ủy quyền để hưởng thù lao và xem đó như là một nghề mang lại thu nhập cho bản thân. Thực tế cho thấy, do nhu cầu công việc trong xã hội phát triển, rất nhiều chủ thể khổng thể tự mình tham gia vào một giao dịch khác nên họ phải nhờ người khác làm thay. Chính vì lẽ đó mà hợp đồng ủy quyền đang dần trở nên là một hợp đồng thông dụng trong giao lưu dân sự.

Ở khía cạnh khác, có thể nói công việc được ủy quyền mang tính rộng rãi, thường xuyên nhất hiện nay đó chính là việc ủy quyền tham gia tố tụng. Sỡ dĩ như vậy bởi vì việc tham gia tố tụng đòi hỏi những kỹ năng và sự am hiểu pháp luật nhất định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong vụ kiện. Tuy nhiên, chúng ta cần phải thừa nhận rằng hiện nay pháp luật Việt Nam có rất ít những quy định liên quan đến hợp đồng ủy quyền nói chung và hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng nói riêng. Pháp luật là một công cụ để điều tiết xã hội, một khi không bắt nhịp được với sự phát triển chung của một quan hệ xã hội nào đó sẽ dẫn đến lạc hậu và gây không ít khó khăn trong việc áp dụng pháp luật.

Trong chương này, người viết sẽ đề cập đến một số vấn đề về thực trạng giao kết hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng và đưa ra các giải pháp cụ thể.

3.1 Hình thức hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng

3.1.1  Thực trạng

Hình thức của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án là một vấn đề có nhiều tranh cãi trong khoa học luật cũng như thực tiễn xét xử, giải quyết các vụ án. Cụ thể như sau:

– Hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng được lập dưới hình thức “giấy ủy quyền” giữa cá nhân với cá nhân:

Trong thực tiễn giải quyết các vụ, việc dân sự, khi đương sự ủy quyền cho người thân thích của mình hoặc Luật sư, hoặc người có hiểu biết về pháp luật để thay mặt mình tham gia tố tụng và quyết định các vấn đề có liên quan thường không giao kết một hợp đồng ủy quyền, mà hầu hết các trường hợp đương sự đều cung cấp cho Tòa án văn bản gọi là “giấy ủy quyền”, với nội dung đơn giản và dĩ nhiên sẽ không thể hiện một cách hoàn chỉnh quyền và nghĩa vụ của người ủy quyền và người được ủy quyền.

Ví dụ: Trong vụ án “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất bị lấn chiếm” giữa nguyên đơn ông Lý Ch. với các bị đơn bà Lý Thị Lệ H. và ông Lương Sơn Q. thì những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các con của bà H. và ông Q. đều lập “giấy ủy quyền” cho bà H. thay mặt mình tham gia tố tụng. Nội dung giấy ủy quyền thể hiện nội dung “…Nay tôi làm giấy ủy quyền này để ủy quyền cho mẹ tôi là bà Lý Thị Lệ H. thay mặt tôi tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng cho đến khi kết thúc vụ án”.

Đây là hình thức ủy quyền phổ biến trong tố tụng dân sự hiện nay. Về cơ bản, đây rõ ràng là một hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng được Tòa án chấp nhận vì thể hiện được ý chí của người ủy quyền và người được ủy quyền[37]. Tuy nhiên, điều này gây không ít khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Bởi lẽ, hợp đồng ủy quyền không được lập với những điều khoản cơ bản làm người thứ ba, đặc biệt là Tòa án không thể xác định được giá trị của hợp đồng ủy quyền, phạm vi cũng như thời hạn của hợp đồng ủy quyền giữa các đương sự là như thế nào. Trong vụ án nêu trên, tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án đã phải hoãn phiên tòa do việc ủy quyền không nêu rõ thời hạn, phạm vi ủy quyền tại Tòa án cấp phúc thẩm giữa các con bà H. và bà H. Dù thời hạn ủy quyền là đến khi kết thúc vụ án, nhưng việc ủy quyền chỉ có giá trị ở Tòa án huyện Châu Thành.

– Hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng được lập dưới hình thức “giấy giới thiệu”, “quyết định về việc ủy quyền” của cơ quan, tổ chức:

Bên cạnh đó, thực tiễn xét xử cũng cho thấy trong các vụ việc dân sự mà một hoặc hai bên đương sự là cơ quan, tổ chức có trường hợp người đứng đầu pháp nhân không lập hợp đồng ủy quyền mà thông qua hình thức “giấy giới thiệu”, “quyết định về việc ủy quyền tham gia tố tụng” của cơ quan với nội dung ủy quyền cho công chức hoặc nhân viên của mình thay mặt pháp nhân tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền.

Ví dụ: Trong vụ án “Tranh chấp đòi lại đất lấn chiếm và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Nguyễn K và bị đơn bà Trần Huyền T. Ủy ban nhân dân thành phố Sóc Trăng được đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, tại phiên hòa giải bà Nguyễn Thị Thu H là người được UBND thành phố Sóc Trăng cử đến để đại diện tham gia chỉ xuất trình giấy giới thiệu đến Tòa án theo giấy triệu tập. Đến giai đoạn xét xử sơ thẩm, UBND thành phố Sóc Trăng đã gửi đến Tòa án quyết định về việc ủy quyền tham gia tố tụng, với nội dung cử bà Nguyễn Thị Thu H đại diện UBND tham gia tố tụng trong vụ án.

Vấn đề này đã có nhiều quan điểm khác nhau. Vậy có chấp nhận hay không chấp nhận giấy giới thiệu này là văn bản ủy quyền tham gia tố tụng. Thực tế cho thấy Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm giải quyết vụ án nêu trên do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trong việc ủy quyền tham gia tố tụng không được thực hiện bằng văn bản ủy quyền có giá trị pháp lý. Qua đó, chúng ta thấy rằng việc hình thức của hợp đồng ủy quyền chưa được thống nhất đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, gây lãng phí, sai sót trong quá trình tố tụng của Tòa án.

3.1.2 Nguyên nhân và giải pháp

Kể từ khi Bộ luật dân sự năm 2005 được ban hành và đi vào thực tiễn, hình thực của hợp đồng ủy quyền nói chung đã được “mở và thoáng” hơn. Theo đó, hình thức của hợp đồng ủy quyền có thể được lập dưới hình thức văn bản, có hoặc không có chứng thực hoặc được xác lập bằng lời nói tùy tính chất công việc, lĩnh vực khác nhau theo quy định của pháp luật có liên quan.

Đối với việc ủy quyền tham gia tố tụng, pháp luật tố tụng chỉ đề cập đến việc ủy quyền phải dưới hình thức văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc hợp pháp hóa lãnh sự trong những trường hợp cụ thể được hướng dẫn bởi Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Thực tế cho thấy, thuật ngữ “văn bản ủy quyền” có thể trở nên rất đa dạng dưới nhiều loại văn bản với tính chất và giá trị pháp lý hoàn toàn khác nhau.

Chúng tôi cho rằng không thể chấp nhận hình thức “giấy giới thiệu” với nội dung như trên là văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bởi lẽ nội dung giấy giới thiệu không thể hiện nội dung ủy quyền, phạm vi ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức mà chỉ có ý nghĩa xác định người được giới thiệu là người của cơ quan, tổ chức đó. Mặt khác, cũng không có căn cứ xác định chữ ký của người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó. Do đó, kèm theo giấy giới thiệu vẫn phải có văn bản ủy quyền hợp pháp của người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức thì người được giới thiệu mới được chấp nhận là người đại diện theo ủy quyền của cơ quan, tổ chức. Hình thức hợp đồng ủy quyền dưới dạng “giấy giới thiệu” không thể được chấp nhận trong việc tham gia tố tụng.

Ở một khía cạnh khác, đối với “giấy ủy quyền” và “quyết định về việc ủy quyền” đã được đề cập ở phần trên, Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành không có quy định việc ủy quyền tham gia tố tụng bắt buộc phải được lập theo hình thức gọi là “hợp đồng ủy quyền”. Và Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự đã sử dụng thuật ngữ “văn bản ủy quyền” và chưa có một hướng dẫn khác. Do đó, chúng tôi cho rằng văn bản ủy quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 74 BLTTDS có thể được lập theo hình thức là giấy ủy quyền hoặc quyết định về việc ủy quyền tham gia tố tụng hoặc hợp đồng ủy quyền trong đó phải xác định rõ nội dung, phạm vi ủy quyền. Trong thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự, các Tòa án cũng chấp nhận văn bản ủy quyền là hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền.

Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế được các Tòa án áp dụng dựa trên quan điểm. Để xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện, thiết nghĩ cần có những quy định cụ thể hơn của luật.

3.2 Về nội dung của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án

3.2.1 Thực trạng

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên trong giao dịch dân sự. Hợp đồng ủy quyền thông thường hay hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng cũng vậy, nội dung hợp đồng hay nói cách khác là nội dung ủy quyền là do các bên thỏa thuận. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nếu nội dung của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng không được quy định cụ thể để hướng các bên (đương sự) giao kết hợp đồng ủy quyền theo nội dung luật định, có giới hạn cụ thể thì sẽ dẫn đến những khó khăn nhất định trong việc áp dụng pháp luật.

Ví dụ: Ông T khởi kiện bà V về việc chia di sản của cha mẹ để lại là cụ H và M (cụ H chết năm 1989 và cụ M chết năm 2001, giữa cụ H và M có với nhau 08 người con), trong 08 người con của cụ H và M thì có bà H và ông Th đang định cư sinh sống tại nước ngoài. Để đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự Tòa án đã yêu cầu bà H và ông Th có ý kiến của mình về nội dung vụ kiện. Sau khi nhận được văn bản của Tòa bà H và ông Th có văn bản ủy quyền cho Luật sư K nhân danh mình đến Tòa án tham gia tố tụng trong vụ kiện trên, theo văn bản ủy quyền đó thì bà H và ông Th ủy quyền cho Luật sư K có nội dung “…ông K được nhân danh bà H và ông Th đến Tòa án tham gia tố tụng trong vụ kiện và toàn quyền quyết định, định đoạt mọi vấn đề trong vụ kiện trên; đồng thời yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật Việt Nam…”.

Từ ví dụ trên đã có hai quan điểm khác nhau về nội dung ủy quyền của bà H và ông Th cho Luật sư K:

+ Quan điểm thứ nhất cho rằng: Nội dung ủy quyền của bà H và ông Th ủy quyền cho ông K là không phù hợp với quy định của pháp luật, mà cụ thể là ông K không thể thay mặt bà H và ông Th yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo quy định của pháp luật được, bởi bà H và ông Th được xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện và một khi có yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cha mẹ để lại (mà cụ thể là yêu cầu độc lập) thì về thủ tục được thực hiện theo quy định về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể là trong trường hợp này bà H và ông Th phải làm đơn khởi kiện đồng thời ký tên vào đơn khởi kiện của mình theo quy định của Điều 164 Bộ luật tố tụng Dân sự. Do đó, ông K không thể đại diện bà H và ông Th yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ H và M để lại theo quy định của pháp luật được, cho nên nội dung ủy quyền này không hợp pháp.

+ Quan điểm 2: Nội dung ủy quyền của bà H và ông Th với ông K là không vi phạm pháp luật, theo quy định tại khoản 1 Điều 139 “Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây được gọi là người đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”, theo đó ông K đã nhân danh bà H và ông Th yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật và công việc này vẫn nằm trong phạm vi ủy quyền của các bên. Hơn nữa, việc ông K làm người đại diện theo ủy quyền cho bà H và ông Th không thuộc trường hợp không được làm người đại diện (Điều 75 Bộ luật tố tụng Dân sự). Do đó, giao dịch bằng hình thức hợp đồng ủy quyền giữa bà H, ông Th với ông K không vi phạm pháp luật nên ông K được quyền nhân danh bà H và ông Th đến Tòa án yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật, trong trường hợp ông K vượt quá phạm vi ủy quyền thì phải chịu trách nhiệm theo quy định tại Điều 146 Bộ luật Dân sự.

Bên cạnh đó, thực tiễn xét xử cũng cho thấy hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng có thể được lập dưới nhiều hình thức, thể loại khác nhau. Nhưng nội dung của hợp đồng có thể đảm bảo được tính chặt chẽ, đạt đến giá trị pháp lý cao, hạn chế rủi ro cho các đương sự và cho cả Tòa án thì lại rất ít. Đa số những trường hợp ủy quyền không đảm bảo được các nội dung cơ bản về thời hạn ủy quyền, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, thù lao, … nhưng Tòa án phải chấp nhận vì đã thể hiện ý chí của người ủy quyền lẫn người được ủy quyền. Mọi vấn đề phát sinh sẽ được giải quyết sau.

Ví dụ: Trong vụ án “Tranh chấp chia thừa kế” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và bị đơn ông Lâm Hữu D, những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đã ủy quyền cho ông Trương Trọng P tham gia tố tụng và quyết định các vấn đề trong vụ án. Tuy nhiên, khi Tòa án đang thụ lý và giải quyết vụ án thì ngày những người thừa kế tố tụng của nguyên đơn tiếp tục gửi đến Tòa án văn bản ủy quyền khác với nội dung ủy quyền cho ông Trần Khánh T tham gia tố tụng mà không hề đề cập đến việc chấm dứt hợp đồng ủy quyền với ông P.

Sự việc không những gây khó khăn cho Tòa án (được xem như bên thứ ba của hợp đồng trong trường hợp này) mà còn để lại hậu quả tranh chấp giữa những người kế thừa tố tụng của bà L và ông P về thù lao và chi phí cho công việc đã thực hiện, vì nội dung văn bản ủy quyền không hề đề cập đến việc xác lập, thay đổi, chấm dứt hợp đồng cũng như thù lao ủy quyền,…

3.2.2 Nguyên nhân và giải pháp

Theo quy định tại khoản 3 Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự thì người đại diện theo ủy quyền trong Bộ luật Dân sự là người đại diện ủy quyền trong tố tụng dân sự, tuy nhiên khi đối chiếu với Mục 12 (quy định về Hợp đồng ủy quyền) của Bộ luật Dân sự thì trong mục này không có quy định về nội dung ủy quyền cụ thể là những nội dung gì. Theo Điều 581 quy định “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền…”, nhưng cụ thể gồm những công việc gì, giới hạn cụ thể ra sao thì chưa có quy định cụ thể.

Đối với những hợp đồng có tính phố biến, phức tạp và xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý quan trọng, pháp luật dân sự đã quy định cụ thể hợp đồng phải đảm bảo những nội dung nhất định, như một điều kiện bắt buộc về mặt hình thức của hợp đông. Pháp luật tố tụng dân sự cũng vậy, đối với các văn bản tố tụng khác như đơn khởi kiện hay các quyết định, thông báo của Tòa án thì đã có những quy định rất cụ thể về nội dung của văn bản khi được ban hành. Tuy nhiên, đối với một hợp đồng có tính phổ biến rộng rãi trong xã hội hiện nay (nếu xét về mặt dân sự) hay một văn bản có tính chất quan trọng ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nhưng văn bản ủy quyền (nếu xét về tố tụng dân sự) thì lại không có những quy định cụ thể về nội dung. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những khó khăn, nhầm lẫn, nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau đối với hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng hiện nay.

Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi cho rằng hợp đồng ủy quyền cần được quy định một cách cụ thể về nội dung cơ bản của hợp đồng. Đặc biệt là hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng cần phải đảm bảo về: Người ủy quyền, người được ủy quyền, công việc cụ thể và phạm vi ủy quyền tương ứng với từng giai đoạn hay cả quá trình tố tụng, thời hạn ủy quyền, thù lao ủy quyền và các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên. Có như vậy thì mới đảm bảo tính chặt chẽ, đảm bảo cho việc ủy quyền nói chung và ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án nói riêng được “suôn sẻ” và hạn chế những tranh chấp phát sinh.

3.3 Thời hạn ủy quyền trong hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng

3.3.1 Thực trạng

Đối với thời hạn có hiệu lực pháp luật của hợp đồng ủy quyền được quy định  tại Điều 582 Bộ luật Dân sự, theo quy định này đã xác định 03 trường hợp về thời hạn ủy quyền:

– Thời hạn do các bên thỏa thuận;

– Do pháp luật quy định;

– Nếu không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực một năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền.

Tuy nhiên, khi vận dụng Điều luật này trên thực tế đã xuất hiện một số khó khăn, vướng mắc nhất định, cụ thể:

Đối với các vụ án dân sự vì một lý do nào đó thì người tham gia tố tụng ủy quyền lại cho một người thân hoặc cũng có thể là một Luật sư,v.v… thay mặt họ để tham gia tố tụng trong vụ kiện trên, và thông thường đối với các hợp đồng ủy quyền khi xác định về thời hạn ủy quyền trong hợp đồng hay ghi “Thời hạn ủy quyền: Kể từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc vụ kiện bằng một bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Qua đây thì thời hạn kết thúc ủy quyền đã được xác định tương đối rõ ràng là “đến khi kết thúc vụ kiện bằng một bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án”; Tuy nhiên, vấn đề đặt ra cho chúng ta là thời gian bắt đầu vụ kiện là khi nào? Và đối chiếu với các quy định của pháp luật tố tụng dân sự cũng như pháp luật dân sự hiện hành thì chưa có một quy định nào về chế định bắt đầu vụ kiện là từ khi nào? Và hiện nay trên thực tế cũng có nhiều quan điểm khác nhau về chế định này, cụ thể như sau:

Có quan điểm cho rằng thời gian bắt đầu vụ kiện là kể từ khi nguyên đơn có đơn khởi kiện cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị người khác xâm phạm và yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;

Bên cạnh đó, có quan điểm khác lại cho rằng bắt đầu vụ kiện không phải từ khi người khởi kiện có đơn yêu cầu mà phải được tính từ khi cơ quan chức năng có thẩm quyền (không nhất thiết phải là Tòa án) nhận đơn của họ, và khi đó quyền lợi của họ nêu trong đơn mới được cơ quan chức năng xem xét giải quyết thì khi đó mới bắt đầu vụ kiện và họ có thể ủy quyền;

Không đồng tình với hai quan điểm trên, quan điểm khác lại cho rằng thời gian bắt đầu vụ kiện chỉ được tính từ khi Tòa án thụ lý vụ án, khi đó quyền và nghĩa vụ của các đương sự mới bắt đầu phát sinh, trước khi Tòa án thụ lý vụ án thì các việc ủy quyền không có giá trị pháp lý về mặt tố tụng.

Mặt khác, trong trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận về thời hạn ủy quyền và pháp luật cũng không có quy định thì pháp luật xác định thời hạn ủy quyền của các bên có hiệu lực là một năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền. Nhưng vấn đề đặt ra là  “ngày xác lập việc ủy quyền” là ngày nào, cụ thể là ngày hai bên ký vào văn bản ủy quyền hay tính từ ngày được cơ quan chức năng xác nhận vào hợp đồng ủy quyền đó?

Trong trường hợp ủy quyền được lập từ nước ngoài (do có đương sự ở nước ngoài) gửi về Việt Nam, để ủy quyền này có hiệu lực thì tiến hành hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định thì mới có hiệu lực pháp luật, nhưng trong hợp đồng ủy quyền này đương sự không ghi thời hạn ủy quyền thì theo quy định của Điều 582 Bộ luật Dân sự thời hạn ủy quyền trong trường hợp này là một năm, vậy một năm được tính từ thời gian người ủy quyền ký, hay kể từ khi cơ quan chức năng của nước ngoài xác nhận, hay được tính từ ngày hợp pháp hóa, hay được tính từ ngày người nhận ủy quyền ký đang là câu hỏi lớn đặt ra trong quá trình xét xử, giải quyết các vụ án hiện nay.

3.3.2 Nguyên nhân và giải pháp

Trong thực tiễn xét xử và giải quyết án nói chung, cán bộ Tòa án cũng như Thẩm phán thường nhắc nhiều đến nguyên nhân của việc ấn định thời hạn trong hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng một cách không rõ ràng là do thói quen đã được hình thành từ trong suy nghĩ của người dân. Đó chỉ là từ ngữ thể hiện ý chí của họ, một cách đơn giản rằng người ủy quyền không thể trực tiếp tham gia vụ kiện nên ủy quyền cho người khác thay mình từ khi bắt đầu đến khi kết thúc vụ kiện đó. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học luật, điều đơn giản đó lại nảy sinh những hậu quả pháp lý vô cùng phức tạp không thể lường trước được.

Song, nguyên nhân thực sự cần phải bàn đến những quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này, đã có đủ chặt chẽ để đi đến một cách hiểu nhất quán về thời hạn ủy quyền trong hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng. Do đó, để việc áp dụng Điều luật này trong lĩnh vực tố tụng dân sự trong thời gian tới thiết nghĩ cần có những hướng dẫn chi tiết hơn, qua đó đảm bảo pháp luật được áp dụng thống nhất. Thời hạn ủy quyền tham gia tố tụng cần được thể hiện rõ trong hợp đồng, và sự thỏa thuận của các bên về thời hạn này cần phản ánh theo đúng công việc, phạm vi ủy quyền tương ứng với từng giai đoạn hoặc cả quá trình tố tụng.

KẾT LUẬN

Việc ủy quyền tham gia tố tụng ngày càng trở nên phổ biến, không còn là một xu thế mà đã là một sự phát triển tất yếu khách quan cùng với sự phát triển chung của toàn xã hội. Trong khi đó, pháp luật là công cụ hiệu quả và thiết thực của nhà nước pháp quyền abcxyz để điều tiết các quan hệ xã hội thì tất phải bắt nhịp và điều chỉnh kịp thời các quan hệ đó. Tuy nhiên, qua thực tiễn công tác cũng như nghiên cứu đề tài, chúng ta thấy rằng pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn còn bỏ ngõ khá nhiều các vấn đề pháp lý quan trọng trong chế định hợp đồng ủy quyền nói chung và hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng nói riêng.

Thứ nhất, về hình thức của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng còn khá mơ hồ mặc dù đã có nhiều hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao qua các thời kỳ, nhưng lại không bao quát được vấn đề mà chỉ giải quyết mang tích chất cục bộ dẫn đến việc áp dụng pháp luật không được nhất quán.

Thứ hai, về nội dung của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng chưa được quy định cụ thể đã dẫn đến những thỏa thuận không phục vụ cho việc giải quyết vụ án, hoặc những thỏa thuận vượt quá quyền năng pháp luật tố tụng cho phép. Song, chưa có một quan điểm thống nhất để xác định tính chất pháp lý của những hợp đồng ủy quyền như vậy có được chấp nhận hay không, gây khó khăn rất nhiều cho việc giải quyết vụ án và cho cả đương sự.

Thứ ba, về thời hạn của hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng có những yếu tố pháp lý đặc biệt khác hẳn so với các hợp đồng ủy quyền thông thường. Do có công việc ủy quyền, phạm vi ủy quyền đặc thù theo quy định của pháp luật tố tụng, nhưng lại chưa được giải thích cụ thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.

Thực tiễn đã phản ánh rất rõ những vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng. Như đã khẳng định “hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng” đang là một vấn đề có sức ảnh hưởng đến tính đúng đắn của việc giải quyết án nói chung và việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nói riêng. Song, do thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp, người viết đã chưa bao quát hết được các vấn đề có liên quan và xem đó như là một hướng nghiên cứu tiếp theo khi có điều kiện (như vấn đề ủy quyền lại cho người thứ ba, về nghĩa vụ thông báo và trách nhiệm của các bên khi đơn phương chấp dứt hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng,…)./.

CHÚ THÍCH

[1] Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Tập 1), Tủ sách Đại học Cần Thơ, 2004, trang 4.

[2] Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (Tập II), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, trang 194.

[3] Nguyễn Thị Ngọc Tuyền, Bài giảng Luật Dân sự 2, 2010, trang 5.

[4] Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Tập 1), Tủ sách Đại học Cần Thơ, 2004, trang 5.

[5] Đinh Văn Thanh, Đặc trưng pháp lý của hợp đồng dân sự, Tạp chí Luật học, số 4/1999, trang 20.

[6] Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng 1996.

[7] Khoản 1 Điều 406 Bộ luật Dân sự 2005.

[8] Khoản  2 Điều 406 Bộ luật Dân sự2005.

[9] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân Hà Nội, 2007, trang 228.

[10] Điều 585 Bộ luật Dân sự 1995: “ Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

[11] Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật Dân sự Việt Nam, NXB Trẻ, 2005, trang 401.

[12] Điều 581 Bộ luật Dân sự 2005.

[13] Bộ Tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc, NXB Chính trị quốc gia, 1998.

[14] Điều 131 Bộ luật Dân sự 1995: “Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

  1. Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
  2. Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội;
  3. Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
  4. Hình thức của giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật.”

Điều 133 Bộ luật Dân sự 1995: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải được Công chứng Nhà nước chứng nhận, được chứng thực, đăng ký hoặc phải xin phép, thì phải tuân theo các quy định đó.

Điều 136 Bộ luật Dân sự 1995: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 131 của Bộ luật này, thì vô hiệu.”

[15] Công văn số 3298/BTP-BTTP ngày 16/9/2009 của Bộ Tư pháp về công chứng ủy quyền.

[16] Lê Thu Hà, Có hay không sự khác nhau khi công chứng hợp đồng ủy quyền và giấy ủy quyền, Tạp chí Nghề Luật số 04, Học viện Tư pháp, 2010, trang 48.

[17] Điểm a Khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005.

[18] Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật Dân sự Việt Nam, NXB Trẻ, 2005, trang 406.

[19] Khoản 2 Điều 152 Bộ luật Dân sự 1995.

[20] Khoản 2 Điều 18 Thông tư 16/2010/TT- BXD: “…Trường hợp sàn giao dịch bất động sản không phải do chủ đầu tư thành lập (không trực thuộc chủ đầu tư) thì giữa chủ đầu tư và sàn giao dịch bất động sản phải thực hiện ký hợp đồng uỷ quyền bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở qua sàn; nếu sàn giao dịch bất động sản do chủ đầu tư thành lập (trực thuộc chủ đầu tư) thì chủ đầu tư ký văn bản uỷ quyền cho sàn thực hiện bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở do mình đầu tư xây dựng (văn bản này thay cho hợp đồng uỷ quyền)…”

[21] Điểm a Khoản 1 Điều 9 Thông tư 74/2011/TT- BTC: “Nhà đầu tư khi mở tài khoản giao dịch chứng khoán thì có thể được ủy quyền giao dịch trong các trường hợp sau:

a) Ủy quyền giao dịch bằng văn bản cho công ty chứng khoán hoặc ngân hàng lưu ký chứng khoán thực hiện giao dịch thay cho mình. Khi được ủy quyền giao dịch, công ty chứng khoán/ngân hàng lưu ký thay mặt nhà đầu tư thực hiện giao dịch và phải tuân thủ các quy định về giao dịch, thanh toán chứng khoán, nghĩa vụ công bố thông tin và chịu trách nhiệm trước nhà đầu tư về nội dung theo ủy quyền;”

[22] Nguyễn Thị Ngọc Tuyền, Bài giảng Luật Dân sự 2, 2010, trang 13.

[23] Khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự 2005.

[24] Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật Dân sự Việt Nam, NXB Trẻ, 2005, trang 409.

[25] Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật Dân sự Việt Nam, NXB Trẻ, 2005, trang 414.

[26] Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật Dân sự Việt Nam, NXB Trẻ, 2005, trang 412.

[27] Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (Tập II), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, trang 677.

[28] Khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự 2005: “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

[29] Sẽ phân tích ở tiểu mục 2.2.1.2.

[30] Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (Tập II), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, trang 678.

[31] Điều 45 Luật Kinh doanh bất động sản: Nội dung môi giới bất động sản

  1. Tìm kiếm đối tác đáp ứng các điều kiện của khách hàng để tham gia đàm phán, ký hợp đồng.
  2. Đại diện theo uỷ quyền để thực hiện các công việc liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản.
  3. Cung cấp thông tin, hỗ trợ cho các bên trong việc đàm phán, ký hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản.

    Điều 46 Luật Kinh doanh bất động sản: Thù lao môi giới bất động sản

  1. Tổ chức, cá nhân môi giới bất động sản được hưởng một khoản tiền thù lao môi giới từ khách hàng không phụ thuộc vào kết quả giao dịch mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản giữa khách hàng và người thứ ba.
  2. Mức thù lao môi giới bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng không phụ thuộc vào giá của giao dịch được môi giới.

[32] Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (Tập I), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, trang 318.

[33] Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (Tập II), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, trang 682.

[34] Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (Tập II), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, trang 681.

[35] Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật Dân sự Việt Nam, NXB Trẻ, 2005, trang 428.

[36] Khoản 3 Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự.

[37] Người được ủy quyền thường sẽ là người giao nộp giấy ủy quyền trực tiếp tại Tòa án.

—————————

123Luat không khuyến khích sao chép nên chỉ chia sẻ File PDF để cộng đồng tham khảo. Trường hợp thật sự cần tham khảo File Word (vì lý do nào đó), các bạn có thể để lại lời nhắn hoặc ý kiến phản hồi tại đây  và chúng mình sẽ cân nhắc. Cảm ơn các bạn đã ghé thăm website!