Business is booming.

Chứng minh tục ngữ thể hiện tri thức của nhân dân

Chứng minh tục ngữ thể hiện tri thức của nhân dân

Hướng dẫn làm bài

– Đề bài yêu cầu: chứng minh nhận định “Tục ngữ thể hiện tri thức của nhân dân”.

– Lấy dẫn chứng từ những câu tục ngữ trong chương trình SGK Ngữ văn 7, tập 2 và một số câu tục ngữ khác.

– Bài làm cần đủ các ý chính sau:

Mở bài:

+ Giới thiệu vị trí của tục ngữ trọng kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

+ Giới thiệu về tục ngữ: là kho báu của kinh nghiệm và trí tuệ dân gian, là “túi khôn dân gian vô tận”.

Thân bài:

+ Khái niệm tục ngữ: tục ngữ là những câu nói dân gian, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt, được nhân dân vận dụng vào cuộc sống…

+ Tục ngữ về thiên nhiên, lao động sản xuất: phản ánh những hiểu biết của nhân dân về tự nhiên và công cuộc lao động, chinh phục thế giới.

. Kinh nghiệm tự nhiên: Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng! Ngày tháng mười chưa cười đã tối,…

. Kinh nghiệm lao động: Tấc đất, tấc vàng; Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền,…

+ Tục ngữ về con người, xã hội:

. Ca ngợi con người: Một mặt người bằng mười mặt của; Cái răng cái lóc là góc con người,..

. Khuyên bảo con người điều hay lẽ phải – Không thầy đố mày làm nên; Ăn quả nhớ kẻ trồng cây; Một cây làm chằng nên non / Ba cây chụm lại nên hòn núi cao,…

Kết bài:

+ Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tục ngữ đối với đời sống con người.

+ Bảo tồn, phát huy giá trị của tục ngữ.

Bài văn mẫu

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, dù công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ song chung ta vẫn không thể phú nhận vai trò của những kinh nghiệm dân gian, đó là những câu tục ngữ. Có điều này bởi tục ngữ thể hiện vốn tri thức, vốn hiểu biết của nhân đân về nhiều mặt trong tự nhiên và xã hội.

Tục ngữ là những câu nói dân gian thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt: tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hàng ngày. Bản thân tên gọi thề loại văn học này đã phần nào phản ánh bản chất của thể loại: “tục” là thói quen, lâu đời, được mọi người công nhận; “ngữ” là lời nói. Như vậy, “tục ngữ” là lời nói phản ánh những thói quen lâu đời, những vấn đề đã được mọi người trải nghiệm và công nhận.

Xem thêm:  Tả cánh đồng lúa chín ở quê em

Những câu tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất phản ánh những hiểu biết của nhân dân về thế giới tự nhiên và công cuộc lao động chinh phục thế giới ấy.

Ta có thể kể đến câu tục ngữ:

Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

Câu tục ngữ phản ánh kinh nghiệm về khoảng thời gian tháng năm, tháng mười. Tháng năm đêm ngắn (chưa kịp nằm trời đã sáng), tháng mười ngày ngắn (chứa kịp cười đã tối). Như vậy, tháng năm (suy rộng ra là mùa hè) ngày dài, tháng mười (suy rộng ra là mùa đông) đêm dài. Hiểu biết trên đây xuất phát từ những lần quan sát và trải nghiệm thực tế. Áp dụng kinh nghiệm này, người ta chú ý phân bố thời gian biểu làm việc cho phù hợp; chú ý khẩn trương khi làm việc, bố trí giấc ngủ hợp lí,… Câu tục ngữ giúp con người có ý thức về thời gian làm việc theo mùa vụ.

Cùng nội dung về thiên nhiên, câu tục ngữ sau đây phản ánh hiểu biết của dân gian về thời tiết:

Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa.

Khi trời nhiều sao “mau sao” thì sẽ nắng, khi trời không có hoặc ít sao “vắng sao” thì mưa. Cơ sở thực tiễn của câu tục ngữ cũng là dựa trên quan sát, trải nghiệm thực tế. Ít mây nên nhìn thấy nhiều sao, mây ít trời quang vậy sẽ có nắng; nhiều mây nên nhìn thấy ít sao, mây nhiều vậy trời sẽ mưa. Đây là một trong những kiến thức đơn giản, nhìn sao trên trời đêm hôm trước có thể đoán trước được thời tiết của ngày hôm sau để sắp xếp công việc.

Điều kiện thiên nhiên gắn bó sâu sắc với đời sống lao động sản xuất. Ngoài việc thể hiện tri thức về thiên nhiên, qua tục ngữ, dân gian còn thể hiện tri thức trong lao động sản xuất.

Trong lao động, đối với nền nông nghiệp trồng lúa nước như nước ta, không có gì quý hơn đất đai, bởi vậy nên:

Tấc đất tấc vàng

Đất thường tính bằng đơn vị mẫu, sào, thước. Tính tấc là muôn tính đến đơn vị nhỏ nhất. Vàng là kim loại rất quý (Quý như vàng) tính đếm bằng gam, bằng cây (dùng cận tiểu li để cân đong). Nhân dân nói “Tấc đất tấc vàng” là để khẳng định đất đai được coi quý ngang vàng: tấc đất là tấc vàng.

Xem thêm:  Soạn bài Bánh chưng bánh giầy lớp 6 đầy đủ hay nhất

Từ đất đai có thể lao động để làm ra của cải vật chất, nuôi sống và làm giàu cho con người, tiềm năng của đất là vô hạn, khai thác mãi không bao giờ vơi cạn, đất thực quý như vàng vậy. Người ta sử dụng câu tục ngữ này để đề cao giá trị của đất, phê phán việc lãng phí đất (bỏ ruộng hoang, sử dụng đất không hiệu quả).

Đất đai quý giá như vậy nên cần sử dụng đất đai cho hiệu quả. Dân gian cũng đúc rút kinh nghiệm: Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền.

Câu tục ngữ nói về giá trị kinh tế khi khai thác ao, vườn, ruộng. Cũng có thể nói về sự cộng phu, khó khăn của việc khai thác các giá trị kinh tế ở các nơi đó. Ao thả cá, thả rau muống, rau cần… do đó cho phép thu hoạch đa dạng nhiều loại sản:phấm cho giá trị kinh tế cao. Nhưng đồng thời cũng vất vả nhất do phải đầu tư nhiều về ao, thức ăn, công sức… Vườn thì trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ. Giá trị kinh tế thấp hơn cả nhưng cao hơn lúa ngô khoai sắn. Ruộng thì phổ biến hơn cả, chỉ để cây lúa hay trồng cây lương thực, hoa màu. Cũng vì vậy mà giá trị kinh tế thấp. Người xưa đã tổng kết về giá trị kinh tế đồng thời cũng có thể hiểu là độ khó của kĩ thuật khi nuôi trồng canh tác trên ao, vườn, ruộng,

Nhắc đến tục ngữ, không thể không nhắc đến những hiểu biết của nhân dân về con người yà đời sống xã hội.

Nhắc đến con người, tục ngữ ngợi ca: “Một mặt người bằng mười mặt của?. Điều đó hàm nghĩa đề cao giá trị của con người. Của cải đã quý giá (“Quý như vàng”) nhưng con người còn quý hơn. Các lượng từ “một” (mặt người), “mười” (mặt của) chỉ là ước lộ nhằm khẳng định: con người quý giá hơn của cải rất nhiều. Điều dó có cơ sở thực tế là con người chính là đối tượng trực tiếp lao đọng sản xuất làm ra của cải vật chất. Bởi thế, đây là câu tục ngữ đầy tính nhàn văn.

Xem thêm:  Chứng minh rằng: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có” lớp 7

Ngợi ca con người, đồng thời, tục ngữ cũng nhắc nhở con người giữ gìn để làm tăng thêm vẻ đẹp của mình: “Cái răng cái tóc là góc con. người”. Răng và tóc là những yêu tố ngoại hình rất quan trọng. Vì vây, chúng ta phải biết chăm chút đế thể hiện hình thức, tính nết tốt đẹp của con người.

Con người không sống lẻ loi, đơn độc mà sống trong mối quan hệ cộng đồng rộng lớn, bởi vậy cũng cần biết đến những cách sống đẹp.

Đó là sống có trước có sau, biết ơn những người đã giúp đỡ mình: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Sống biết yêu thương, đoàn kết với tập thể để vượt qua những khó khăn, gian khổ của cuộc sống: “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”, “Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”,…

Đặc biệt, đối với con người, học tập là công việc quan trọng suốt đời nên phải biết học tập mọi lúc, mọi nơi, từ nhiều người, nhiều nguồn:

Không thầy đố mày làm nên.

Học thầy không tày học bạn.

Mới đọc tưởng chừng hai câu tục ngữ đôi lập nhau nhưng thực chất lại bô sung chặt chẽ cho nhau. Cả hai cầu, câu nào cũng đề cao việc học, chỉ có học tập, biết tìm thầy mà học thì con người mới có thể thành tài, có khả năng đóng góp cho xã hội và sống mới có ý nghĩa. Mặt khác, học hỏi ở ngay những người bạn cùng trang lứa cũng là một cách học quan trọng, bản thân mỗi người có thể lấy đó làm gương, tu dưỡng nhân cách.

Tục ngữ thể hiện những tri thức quý báu của nhân dân về mọi mặt trong đời sống của con người. Đó đều là những hiểu biết vàng mười đã được thời gian và sự thật cuộc sông thử thách, sàng lọc. Điều đặc biệt là vốn tri thức ấy lại được diễn đạt bằng những hình thức vô cùng ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ lưu truyền. Và bởi thế, cho đến ngày nay và mai sau, dó thực sự là vốn quý của chúng ta, giúp chúng ta có được những hiểu biết sâu rộng về tự nhiên và xã hội.


Comments are closed.